Trong gần 3 thập kỷ, ngành ô tô Việt Nam chủ yếu vận hành theo mô hình lắp ráp với tỷ lệ nội địa hóa cho xe cá nhân thấp kỷ lục. Điều này tạo ra một "nút thắt cổ chai" về kinh tế vĩ mô. Tỉ lệ nội địa hoá thấp dẫn tới mất cân bằng cán cân thương mại, thiếu hụt giá trị gia tăng trong nước, không tạo được chuỗi cung ứng nội địa và đặc biệt không tích luỹ được năng lực sản xuất công nghệ cao trong nước, gây áp lực nặng nề lên cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối.
Tuy nhiên, giai đoạn 2024–2026 đang ghi nhận sự thay đổi lớn. Các doanh nghiệp nội địa đầu đàn như VinFast đã nâng tỷ lệ nội địa hóa lên tầm mới. Theo VinFast, hiện tỷ lệ nội địa hoá của xe điện của hãng đã đạt hơn 60%, bao gồm các chi tiết quan trọng như thân vỏ, động cơ, trần xe, giảm xóc. VinFast cũng đặt mục tiêu nội địa hoá lên đến 84% trong năm 2026.
Trên thực tế, ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam là ngành đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là các ngành sản xuất chế tạo, trong đó có công nghiệp ô tô. Nhưng lĩnh vực này vẫn đang gặp nhiều thách thức lớn. Thứ nhất là quy mô còn nhỏ lẻ khi phần lớn các doanh nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiếu sự đầu tư về công nghệ và năng lực sản xuất. Thứ hai là khả năng cạnh tranh thấp. Sản phẩm của các doanh nghiệp hỗ trợ trong nước thường khó đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và giá cả so với các nhà cung cấp quốc tế. Thứ ba là thiếu liên kết trong chuỗi cung ứng. Các doanh nghiệp nội địa còn thiếu sự kết nối chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trước thực tế đó, để bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững của ngành công nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam, hướng sản phẩm ô tô "Made in Việt Nam" ra thị trường xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh, tình hình mới khi đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, ngành công nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng hơn để có những đột phá và bước nhảy mới mà trước hết là phải tăng được tỉ trọng nội địa hóa sản phẩm ô tô sản xuất tại Việt Nam theo đúng nghĩa.
Trước yêu cầu từ thực tiễn, vên cạnh VinFast, những "ông lớn" như Thaco hiện đã chủ động sản xuất được các linh kiện quan trọng như bộ dây điện, ghế, và thân vỏ. Tại Thaco Trường Hải, tỉ lệ nội địa hoá của doanh nghiệp đã lên tới 70% với một số dòng xe. Các doanh nghiệp và đơn vị vệ tinh cho Trường Hải bao gồm: Trung tâm R&D; Trung tâm Cơ khí chế tạo và 17 nhà máy sản xuất linh kiện phụ tùng. Thaco cybxf đã chủ động nhiều loại linh kiện, phụ tùng ô tô, như ghế ô tô, linh kiện nội thất, kính, dây điện, nhíp; sản xuất khuôn, máy lạnh xe du lịch, máy lạnh xe tải, bus; linh kiện nhựa; thân vỏ ô tô, sơ mi rơ moóc, cản xe, dây, áo ghế, khung xương ghế, linh kiện cơ khí, linh kiện nhựa - composite và nhóm các thiết bị công nghiệp khác.
Mới đây nhất, ông Trần Bá Dương, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải (THACO), tiếp tục tuyên bố về việc doanh nghiệp này sẽ ra mắt thương hiệu xe du lịch (ô tô dưới 9 chỗ) mang tên chính mình vào năm 2027 đã tạo ra một “cơn địa chấn” với ngành ô tô Việt. Nếu kế hoạch này là thành hiện thực thì đây không chỉ là bước đi chiến lược của một "ông lớn" trong ngành mà còn là tín hiệu cho thấy sự chuyển mình mạnh mẽ của cả ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.
Việc chuyển dịch từ "lắp ráp" sang "chế tạo" không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn giúp nền kinh tế giảm bớt sự nhạy cảm trước các cú sốc tỷ giá và đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong Dự thảo Đề cương Chiến lược phát triển các ngành ô tô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Bộ Công Thương, mục tiêu đặt ra với thị trường xe Việt đến năm 2035, tổng sản lượng xe đạt khoảng 1.531.400 chiếc, trong đó xe đến 9 chỗ khoảng 852.600 chiếc, từ 10 chỗ trở lên khoảng 84.400 chiếc, xe tải khoảng 587.900 chiếc, xe chuyên dụng khoảng 6.500 chiếc.
The Dự thảo, tỷ lệ số xe sản xuất lắp ráp trong nước được đặt mục tiêu sẽ chiếm khoảng 78% so với nhu cầu nội địa. Về phát triển công nghiệp hỗ trợ, giai đoạn đến năm 2020, cơ bản hình thành ngành công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất ô tô; phấn đấu đáp ứng khoảng 35% (tính theo giá trị) nhu cầu về linh kiện, phụ tùng cho sản xuất lắp ráp ô tô trong nước. Giai đoạn 2026 - 2035 đáp ứng trên 65% nhu cầu về link kiện, phụ tùng cho sản xuất lắp ráp ô tô trong nước.
Để đạt được các mục tiêu trên, Chiến lược đã đưa ra các định hướng cụ thể như xác định và thiết lập đối tác chiến lược, khuyến khích đầu tư các dự án đủ lớn để tạo dựng thị trường cho công nghiệp hỗ trợ; khuyến khích sản xuất dòng xe thân thiện môi trường (xe tiết kiệm nhiên liệu, xe hybrid, xe sử dụng nhiên liệu sinh học, xe chạy điện...), đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn khí thải theo lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Còn theo một báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), ước tính có tổng cộng 76.186 chiếc ô tô mới, bao gồm cả xe sản xuất trong nước và xe nhập khẩu được bổ sung cho thị trường Việt Nam trong tháng 12/2025. Con số này tăng 12,8% so với tháng 11 (67.550 chiếc).
Đáng chú ý, sản lượng ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước tháng 12 ước đạt tới 60.700 chiếc, tăng 23,4% so với tháng 11 và tăng tới 57,5% so với tháng 12/2024. Luỹ kế cả năm 2025, các nhà sản xuất ô tô trong nước xuất xưởng ước đạt 484.500 chiếc, tăng tới 39,1% so với cùng kỳ năm 2024. Đây cũng là sản lượng năm kỷ lục của ngành ô tô Việt từ trước đến nay.
Đặc biệt, trong top 10 mẫu xe bán chạy nhất thị trường Việt Nam trong năm 2025, 7 mẫu xe sản xuất lắp ráp trong nước chiếm lĩnh bảng xếp hạng. Trong đó, ô tô điện của VinFast chiếm 4 vị trí đầu. Đứng thứ nhất là VinFast VF3 với 44.585 xe, tiếp theo là VinFast VF5 với 43.913 xe, VinFast Limo Green 27,127 xe và VinFast VF6 23.291 xe.
Trước những bước chuyển của thị trường và sự lớn mạnh của doanh nghiệp ngành ô tô Việt, PGS-TS Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, đánh giá rất cao những nỗ lực và thành tựu mà những “cánh chim đầu đàn” như VinFast đã đạt được. Đó là những tín hiệu tốt lành cho ngành cho ngành ô tô Việt. “VinFast sẽ là chim đầu đàn, đi đầu nhưng dẫn đàn chứ không đi một mình, và cả ngành công nghiệp phát triển phù hợp bối cảnh mới”, PGS-TS Bùi Quang Tuấn cho hay.
Còn theo TS. Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công thương - Bộ Công Thương, mục tiêu không chỉ là cung cấp cho thị trường nội địa mà phải hướng tới xuất khẩu linh kiện, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải đạt được năng lực cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế. Luật Phát triển công nghiệp trọng điểm sắp tới được kỳ vọng sẽ tạo ra khung pháp lý đủ mạnh cho những định hướng này.
Mặc dù đầy triển vọng, "bình minh" của ngành ô tô Việt Nam vẫn đối mặt với những thách thức không nhỏ khi quy mô thị trường cần phải tăng trưởng mạnh hơn. Sản lượng tiêu thụ nội địa dù tăng trưởng nhưng vẫn chưa đủ lớn để tối ưu hóa chi phí sản xuất linh kiện quy mô lớn. Bên cạnh đó là sự cạnh tranh rất mạnh từ xe nhập khẩu trong lộ trình giảm thuế nhập khẩu từ ASEAN về 0% và các hiệp định thương mại tự do (EVFTA, UKVFTA) khiến xe nội địa phải đối mặt với áp lực cạnh tranh cực lớn về giá từ các thị trường như Thái Lan, Indonesia và Trung Quốc.
Có thể nói việc tự chủ ngành ô tô không chỉ đơn thuần là sản xuất ra một chiếc xe mang thương hiệu Việt Nam, mà là xây dựng một ngành công nghiệp ô tô tự chủ. Trong bối cảnh năm 2026, khi thị trường xe điện và xe xanh bùng nổ, Việt Nam đang đứng trước cơ hội hiếm có để "đi tắt đón đầu", thay đổi hoàn toàn vị thế trong trong bản đồ công nghiệp ô tô toàn cầu. Để thực sự thay đổi toàn diện cần một sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách hỗ trợ dài hạn của Nhà nước và khát vọng “dám nghĩ, dám làm”, tự chủ công nghệ của các tập đoàn trong khối tư nhân.