
Năm 2007, cà phê Việt Nam lại có một năm bội thu cả về sản lượng lẫn giá xuất khẩu luôn duy trì ở mức cao, khoảng 1.430 USD/tấn so với mức 1.066 USD/tấn năm 2005.
Đến nay, chúng ta đã xuất khẩu được khoảng 900.000 tấn cà phê, đạt kim ngạch 1,2 tỷ USD, ước cả năm là 1,5 tỷ USD.
Vị thế ngày càng vững chắc của cây cà phê Việt Nam là một trong những cơ sở quan trọng để Hiệp hội Cà phê Ca cao (Vicofa) triển khai ý tưởng đưa cà phê Việt Nam lên sàn giao dịch quốc tế. Đó cũng là nội dung buổi làm việc giữa Chủ tịch Vicofa Văn Thành Huy và Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lương Lê Phương ngày 22/8 vừa qua.
Ngay từ tháng 11/2004, Vicofa đã tiến hành xây dựng Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột (Buon Ma Thuot Coffee Exchange Center), với kỳ vọng đây sẽ là nơi đấu giá tập trung, công khai của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh cà phê.
Cuối năm 2006, phần cơ sở hạ tầng của Trung tâm cơ bản xong, giao dịch cũng đã được tiến hành, phần lớn mang tính chất địa phương, trong vùng (Đăk Lăk là thủ phủ cà phê cả nước) và phạm vi trong nước.
Hình thức mua bán cà phê qua sàn giao dịch theo các loại hợp đồng lựa chọn, kỳ hạn, tương lai, chốt giá sau... bước đầu đã giúp các doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu cà phê Việt Nam có những công cụ bảo hiểm rủi ro về giá hữu hiệu tránh khỏi tình trạng cà phê được mùa lại rớt giá.
Tuy nhiên, trong khi ở một số nước sản xuất cà phê lớn, như Brazil, sàn giao dịch cà phê được đại đa số nông dân trồng cà phê khai thác như phương thức bảo hiểm giá bán, thì ở Việt Nam hoạt động mua bán cà phê qua sàn giao dịch còn quá xa lạ với người trồng cà phê.
Vì vậy, đề án phát triển sàn giao dịch cà phê chính là một trong những bước nhằm nâng cao giá trị cà phê Việt Nam không chỉ về chất lượng mà còn tránh bị đối tác nước ngoài ép giá, hay thua thiệt do không nắm bắt được thông tin.
Mới đây nhất, Chính phủ đã chấp thuận để các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Bộ Công thương và Vicofa xúc tiến triển khai xây dựng Đề án hợp tác và chủ động làm việc với Sàn Giao dịch Hàng hoá Chicago về khả năng đưa sản phẩm cà phê Việt Nam giao dịch tại CME và phát triển sàn giao dịch cà phê tại Việt Nam, trên cơ sở đó tiến tới mở rộng khả năng hợp tác ra các hàng hoá nông sản khác.
Theo đó, CME sẽ giúp Vicofa đào tạo nhân viên vận hành và hoạt động trong các sàn giao dịch, thực hành ngay tại Chicago, sau đó, tiếp tục cử chuyên gia sang hướng dẫn tại Việt Nam.
Ngoài ra, việc xây dựng phần mềm giao dịch cho sàn cà phê Buôn Mê Thuột cũng sẽ được triển khai song song để thay thế cho phương thức đặt lệnh thủ công trên sàn hiện nay.
Nếu công việc hợp tác với Sàn Giao dịch Chicago thuận lợi, đến tháng 3/2008, Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột sẽ trực tiếp đặt lệnh giao dịch với sàn Chicago, không phải thông qua bất kỳ khâu trung gian nào.
Hiện việc này vẫn phải qua trung gian, như Techcombank (Ngân hàng Kỹ thương), BIDV (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển), ATB (Công ty Cổ phần Môi giới Thương mại Châu Á của Vietcombank) và giá cà phê cũng bị đội giá do phải chi trả thêm phí môi giới.
Việc xuất hiện thường xuyên trên CME sẽ giúp các doanh nghiệp cà phê Việt Nam có thêm cơ hội tìm kiếm những đối tác làm ăn mới nhằm giữ giá cho cà phê Việt, đồng thời tiếp cận với những nhu cầu đa dạng khác nhau về sản phẩm cà phê để đưa ra những chiến lược bán hàng, chủng loại sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Không chỉ có vậy, việc đưa vào vận hành thành công sàn giao dịch cà phê ở Việt Nam và tại CME sẽ mở ra triển vọng cho những loại hàng nông sản khác của nước ta thoát khỏi cảnh “được mùa, mất giá” như hiện nay.
Hiện, một số dự án sàn giao dịch nông sản đang ở giai đoạn phôi thai như sàn giao dịch chè, sàn giao dịch gỗ nguyên liệu hay ý tưởng về sàn giao dịch thức ăn chăn nuôi. Điều này xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của ngành nông nghiệp sản xuất quy mô hàng hóa.
Tuy nhiên, thực tế, ý tưởng về những sàn giao dịch mới chỉ dừng lại ở mô hình chợ đầu mối, nơi các doanh nghiệp đấu giá, mua bán trực tiếp, được chọn lựa chủng loại hàng hóa một cách thoải mái hơn.
Song tại hầu hết những chợ đầu mối này, khả năng cung cấp các biện pháp bảo hiểm rủi ro về giá cho doanh nghiệp thông qua các hình thức hợp đồng giao dịch kỳ hạn lại rất hạn chế.
Vì vậy, đến thời điểm hiện nay, tại Việt Nam chỉ có Trung tâm Giao dịch Cà phê Buôn Ma Thuột (BCEC) có thể được xem như một sàn giao dịch nông sản giao sau, với mặt hàng giao dịch duy nhất là cà phê. Ngoài việc đấu giá giao ngay, BCEC còn cung cấp những công cụ hạn chế rủi ro (hedging).
Các chuyên gia kinh tế nông nghiệp cho rằng, hạn chế lớn nhất trong việc hình thành một sàn giao dịch nông sản giao sau tại Việt Nam là do đặc trưng của sản xuất nông sản Việt Nam là tính thời vụ, dựa nhiều vào thiên nhiên, diện tích cây trồng nhỏ lẻ, manh mún.
Vì vậy, sàn giao dịch thật sự thiếu những mặt hàng đạt chuẩn về chất lượng và quy mô để đáp ứng yêu cầu giao dịch. Mặc dù hình thức hợp đồng bảo hiểm rủi ro không mới nhưng việc phổ biến cho các đối tượng tham gia sàn giao dịch nông sản hiểu về các công cụ hạn chế rủi ro không phải là việc dễ dàng.
Bên cạnh đó, Luật Thương mại đã cho phép mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn nhưng nhìn chung, sàn giao dịch nông sản giao sau còn thiếu những văn bản hướng dẫn cụ thể để thực hiện và thiếu cả sự quan tâm đúng mức của các địa phương, bộ, ngành.
Do vậy, để khai thác có hiệu quả sàn giao dịch cà phê trước mắt và các loại nông sản khác trong tương lai, Nhà nước cần sớm hoàn thiện chính sách quản lý đối với hoạt động này.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu nông sản tiếp cận sàn giao dịch, như mở những lớp tập huấn nghiệp vụ, bồi dưỡng kiến thức về thị trường, hỗ trợ cho vay vốn để nộp tiền ký quỹ; tạo điều kiện cho họ sử dụng sàn giao dịch cà phê như một công cụ bảo hiểm giá, phòng ngừa rủi ro khi giá nông sản biến động.
Sự tham gia đông đảo của nhiều đoàn doanh nghiệp, nhà nhập khẩu, hiệp hội ngành hàng và các đơn vị logistics Hoa Kỳ, Brazil cùng các đối tác thương mại ở khu vực châu Mỹ tại VIS 2026 cho thấy sự quan tâm rất lớn đối với hàng hóa Việt Nam. Điều này tiếp tục khẳng định sức hấp dẫn của Việt Nam như một trung tâm cung ứng quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2026 đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, do tốc độ tăng nhập khẩu (33,4%) cao hơn xuất khẩu (21,0%) nên cả nước ghi nhận mức nhập siêu 16,65 tỷ USD, nhưng kết quả này cũng phản ánh nhu cầu đầu vào mở rộng và sản xuất phục hồi mạnh, nhất là khu vực FDI…
Xuất khẩu nông lâm thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng trưởng tích cực với tổng kim ngạch gần 36 tỷ USD. Nhiều ngành hàng như rau quả, thủy sản, sản phẩm chăn nuôi và hạt tiêu duy trì mức tăng khá, trong khi cà phê, cao su và gạo chịu tác động của biến động giá hoặc sự sụt giảm ở một số thị trường chủ lực...
Bức tranh xuất khẩu thuỷ sản trong 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy động lực tăng trưởng đến từ sự bứt phá của thị trường Trung Quốc, trong khi Mỹ có dấu hiệu phục hồi trong tháng 6, còn EU, Nhật Bản và Trung Đông vẫn tăng chậm hoặc giảm nhẹ...
Kết quả đấu thầu 9.365 tấn hạn ngạch dừa năm 2026 tại Đài Loan mở ra vận hội lớn cho hàng Việt Nam. Với 76,5% thị phần nắm giữ, đây là cơ hội để các doanh nghiệp tận dụng lợi thế, vượt rào cản kỹ thuật và giữ vững vị thế chi phối tại thị trường này...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, xung đột vũ trang tại Trung Đông kéo dài tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa, chi phí vận tải và thương mại quốc tế... GDP sáu tháng đầu năm 2026 của nước ta vẫn tăng tới 8,18%. Khu vực 2 là động lực chính cho GDP đạt con số trên.