
Đã có một thời gian khá dài, với quan niệm vàng không ảnh hưởng đến chỉ số giá chung và tác động đến lạm phát, nên việc can thiệp thị trường vàng không nằm trong “tầm ngắm” của việc điều hành chính sách tiền tệ.
Tuy nhiên, sau “sự cố” đáng nhớ của giá vàng vào ngày 11/11/2009, “thái độ” đối với vàng của các cơ quan chức năng đã thay đổi kèm theo đó là một loạt quyết định mạnh tay được rốt ráo thực hiện như ngay khi giá vàng vừa có tín hiệu leo thang, lập tức cho nhập khẩu “thoải mái” để bình ổn thị trường...
Bình luận về sự đột ngột thay đổi này, có ý kiến cho rằng với một thị trường nhạy cảm và dễ tổn thương như vàng thì việc điều hành cần tránh tình trạng lúc thì quá “lạnh lùng”, khi lại “vồ vập” quá, hậu quả sẽ khó lường.
Vì, vấn đề căn bản nhất để ổn định thị trường vàng chính là việc ra những quyết định kịp thời và chính xác trong xuất - nhập khẩu mặt hàng này. Trong khi đó, trong điều hành xuất nhập khẩu vàng thời gian qua, chúng ta chủ yếu chỉ theo thiên hướng “giật mình”, chạy theo giá mà đưa ra quyết định, chứ không mấy khi đón đầu được xu hướng.
Nhìn lại bức tranh xuất - nhập khẩu vàng trong hai năm 2008, 2009 có thể thấy rất rõ điều này.
Từ cuối tháng 5/2008, Chính phủ đã quyết định ngừng nhập khẩu vàng. Hơn nửa năm sau đó, vào hai tháng đầu năm 2009, khi thị trường vàng bắt đầu xuất hiện những diễn biến ngoạn mục đầu tiên, giá vàng trong nước đột ngột tụt hẳn so với giá vàng thế giới từ 300.000 - 800.000 đồng/lượng, việc xuất khẩu vàng được đưa ra nhanh chóng. Khoảng 70 tấn vàng đã “ra đi” đem lại thành tích xuất siêu trong quý 1/2009, thành tích Việt Nam lần đầu tiên đạt được sau 17 năm nhập siêu.
Nhưng, ngay sau đó đã có những dự báo rằng xuất khẩu vàng nhiều không hẳn đã là dấu hiệu tốt, bởi sau này khi có nhu cầu, Việt Nam sẽ lại phải nhập khẩu về. Và khi đó, nếu quản lý không tốt thì cầu ngoại tệ sẽ gia tăng cùng với việc giá vàng trong nước dễ lặp lại tình trạng luôn cao hơn nhiều so với giá quốc tế.
Quả thật, chỉ khoảng 8 tháng sau đó, tháng 11/2009, Việt Nam buộc lại phải quyết định nhập khẩu vàng. Nếu thời điểm xuất khẩu vàng với giá trong khoảng từ 870-980 USD/oz, thì giá vàng mà tháng 11/2009 Việt Nam phải nhập là gần 1.200 USD/oz.
Đến tháng 2/2010, Ngân hàng Nhà nước lại tiếp tục cho Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) tiếp tục nhập khẩu vàng vô giới hạn để bán ra thị trường nhằm bình ổn giá vàng. Quyết định này được đưa ra trong bối cảnh giá vàng trong nước nhiều ngày liên tục luôn đứng mức cao so với giá thế giới, có thời điểm chênh đến vài triệu đồng/lượng dù cung cầu vàng trên thị trường không có dấu hiệu đột biến.
Nhìn lại cơn bão giá vàng hồi trung tuần tháng 11/2009, Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Vàng Vina Nguyễn Trung Anh cho rằng đây chính là hệ quả của việc cấm không cho nhập khẩu vàng kể từ hồi nửa cuối năm 2008. Trong khi đó, đầu năm 2009 đã vội xuất đi một khối lượng vàng khổng lồ.
Còn đánh giá về quyết định cho tái nhập khẩu vàng, TS. Cao Sỹ Kiêm, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia nhận định: “Giá như quyết định này được đưa ra kịp thời hơn thì sẽ không để xảy ra tình trạng giá ảo và đầu cơ...”
Việc bình ổn được thị trường vàng khó mà trông cậy hoàn toàn ở những quyết định xuất hay nhập mang tính tình thế, mà cần một cái nhìn dài hơi hơn, nói theo cách của TS. Kiêm là cần phải phán đoán và dự báo sát thực tế.
Việt Nam trong nhiều năm qua đã trở thành một trong những quốc gia nhập khẩu vàng nhiều nhất thế giới, như năm 2008, Việt Nam vượt cả Ấn Độ và Trung Quốc - vốn là những quốc gia đứng đầu trong nhập khẩu vàng. Cũng vì nhập khẩu vàng mà mức thâm hụt thương mại của Việt Nam nghiêm trọng hơn. Chỉ trong 6 tháng đầu của năm đỉnh cao nhập vàng là 2008, thâm hụt thương mại của Việt Nam đã là gần 17 tỷ USD, trong khi, thâm hụt thương mại cả năm 2007 cũng chỉ là 12,4 tỷ USD.
Không thể phủ nhận những nỗ lực không mệt mỏi của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua trong việc quán xuyến thị trường vàng. Dù vậy, có lẽ việc điều hành thị trường này cần “bình tĩnh” hơn. Bản thân lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, khi lý giải về quyết định cho nhập khẩu vàng trở lại vào tháng 11 vừa qua cũng cho rằng: “Không phải nhập vì thiếu nguồn cung, mà vì chỉ để trấn an tâm lý”.
Mặt khác, thị trường này cũng sẽ tự điều chỉnh nếu nhận được những sự trợ giúp, can thiệp điềm đạm hơn dựa trên một nền tảng dự báo ngày càng chính xác và sáng suốt hơn của cơ quan điều hành.




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.