
Lãnh đạo vụ chức năng của Ngân hàng Nhà nước cho biết, việc chuyển đổi thẻ từ sang thẻ chip hiện mới chỉ dừng lại ở giai đoạn điều tra khảo sát.
Sáng 26/8, Ngân hàng Nhà nước công bố một số thông tin liên quan đến việc chuyển đổi công nghệ thẻ từ thẻ từ sang thẻ chip, qua phát biểu của ông Bùi Quang Tiên, Vụ trưởng Vụ Thanh toán.
Ông Tiên cho biết: “Việc chuyển đổi thẻ từ sang thẻ chip phải là một quá trình, hiện nay tất cả mới chỉ dừng lại ở giai đoạn điều tra khảo sát. Hiện chúng tôi chưa có một tính toán và sự chỉ đạo cụ thể nào về việc chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip.
Còn về kinh nghiệm chuyển đổi của các nước đi trước họ thường cho phép hai loại thẻ dùng song hành trong quá trình chuyển đổi. Việt Nam chúng ta nếu chuyển đổi có thể cũng sẽ làm như vậy. Tất cả chuyển đổi nếu có, đều hướng đến mục tiêu phục vụ ngày càng tốt hơn cho người sử dụng thẻ”.
Về sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước trong việc chuyển đổi này, theo quan điểm của ông Tiên, cách tốt nhất là để các tổ chức phát hành thẻ tự mình cân nhắc việc chuyển đổi, tự hoạch định lộ trình chuyển đổi của họ.
“Ngân hàng Nhà nước về nguyên tắc chỉ can thiệp trong phạm vi chức năng quản lý nhà nước của mình đã được luật pháp quy định và tình hình thực tế đòi hỏi, ví dụ để bảo đảm an toàn, ngăn ngừa, hạn chế rủi ro xảy ra cho người tiêu dùng. Tổ chức phát hành thẻ sẽ phải tự tính toán, quyết định việc chuyển đổi thẻ trên cơ sở năng lực tài chính và cơ sở hạ tầng công nghệ cho phép”, ông Tiên nói.
Tại Việt Nam hiện đã có 9/41 tổ chức đã phát hành và thanh toán bằng thẻ chip. Trên toàn thị trường tính đến tháng 6/2009, tổng số thẻ chip đã phát hành là hơn 28.000 thẻ, chiếm khoảng 0,16% lượng thẻ trên toàn thị trường, có khoảng 13.500 POS (chiếm 48,2%) và 2.000 máy ATM (chiếm 22,7%) đã chấp nhận thanh toán bằng thẻ chip.
Cũng theo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước, đến tháng 6/2009, toàn thị trường đã có 8.800 ATM và 28.300 POS, hơn 17 triệu thẻ đang lưu hành với 176 thương hiệu thẻ do 41 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phát hành.




Từ đầu năm đến nay, bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp và tác động mạnh đến Việt Nam, đặc biệt là điều hành chính sách tiền tệ. Sự kiên định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, không gây áp lực lên hệ thống ngân hàng; kết hợp hài hòa giữa tài khóa và tiền tệ, đã cho thấy cách tiếp cận vấn đề một cách phù hợp. Trong buổi làm việc với các ngân hàng thương mại ngày 13/8, Thủ tướng Lê Minh Hưng ghi nhận thành công của hoạt động điều hành chính sách tiền tệ; đồng thời cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với ngành ngân hàng trong những tháng cuối năm.
Việc tiền gửi liên tục lập “kỷ lục” một phần do đây là số dư tích lũy qua nhiều kỳ, trong đó có phần lãi nhập gốc, chứ không đồng nghĩa người dân vừa đưa một lượng tiền mới tương ứng vào hệ thống ngân hàng…
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước thường xuyên đánh giá “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, điều hành các công cụ chính sách chủ động, linh hoạt, đúng thời điểm, đúng liều lượng...
Từ đầu năm 2026 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai 618 cuộc thanh tra, ban hành kết luận đối với 438 cuộc, qua đó phát hiện tổng số tiền vi phạm về kinh tế là 562.468 tỷ đồng...
Ngân hàng Nhà nước cho biết đến cuối tháng 6/2026, dư nợ cấp tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của hệ thống tổ chức tín dụng đạt 5,146 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2025 và chiếm 25,5% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế; nợ xấu tăng 10,5%...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Trong nhiều năm, khi nói đến tăng trưởng kinh tế, Việt Nam thường đặt trọng tâm vào ba động lực truyền thống: xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, dư địa tăng trưởng của các động lực cũ đang dần thu hẹp, buộc Việt Nam phải tìm kiếm những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao hơn, ít phụ thuộc vào tài nguyên và có khả năng tạo ra nguồn thu ngoại tệ bền vững.