
Một chuyên gia cho rằng cơ chế trần lãi suất huy động VND chắc chắn sẽ điều chỉnh. Và quan trọng là nó sẽ điều chỉnh như thế nào?
Sáng 20/5, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế (VIB) tổ chức hội thảo “Kinh tế vĩ mô 2011 và cơ hội - thách thức cho doanh nghiệp SMEs” cho khoảng 300 đại diện doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) tại Hà Nội.
Mối quan tâm hàng đầu mà doanh nghiệp đặt ra tại hội thảo này là lãi suất. Bao giờ lãi suất mới giảm? Có điều chỉnh cơ chế trần lãi suất huy động VND hay không?
“Chỉ là ngày một, ngày hai”
Diễn giả của hội thảo, ông Cao Sỹ Kiêm (nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tiền tệ Quốc gia), nhận định: “Lãi suất chưa giảm được!”. Nguyên do, cơ sở của lãi suất là lạm phát, mà lạm phát năm nay đến lúc này chắc chắn là ở mức hai con số.
Ông Kiêm cũng đặt vấn đề trực tiếp với lãnh đạo VIB, khi lãi suất chưa giảm được, các ngân hàng cần tăng cường tiết giảm chi phí, tăng thu từ dịch vụ để bù cho thu từ tín dụng, bớt lãi từ tín dụng để chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp vay vốn.
Còn cơ chế trần lãi suất huy động VND, diễn giả này bình luận rằng nó là một ý đồ tốt. Khi cơ chế ra đời, nó ngăn chặn nguy cơ bùng phát một cuộc đua tăng lãi suất huy động ở tầm cao. “Nhưng rồi đến nay cả mốc 14% đó cũng không kiểm soát được, giờ là 16%, 17% rồi 18%. Lãi suất cho vay theo đó tăng cao”, ông Kiêm nói.
Cũng theo nhìn nhận của chuyên gia này, mới đây Ngân hàng Nhà nước đã tăng lãi suất nghiệp vụ thị trường mở (OMO) từ 14%/năm lên 15%/năm, “phá vỡ” cả mức trần 14%/năm lãi suất huy động VND.
Lãi suất trên OMO cũng là một lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Nó có thể linh hoạt theo các mục đích của nhà điều hành. Ở đây, động thái điều chỉnh vừa qua, dù không trực tiếp tác động đến hoạt động huy động vốn từ doanh nghiệp, dân cư, nhưng nó mang tính tín hiệu cho sự thay đổi - một giá trị cụ thể của công cụ điều hành bên cạnh các tác động trực tiếp của nó.
Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng dẫn lại hai phương án đang được bàn luận là nâng trần lãi suất huy động VND lên đồng thời áp trần lãi suất cho vay; hoặc bỏ trần lãi suất huy động và áp trần lãi suất cho vay.
“Theo tôi, không nên áp trần lãi suất huy động mà áp trần lãi suất cho vay. Như thế ngân hàng nào huy động lãi suất cao thì bớt lãi, và ngược lại; còn doanh nghiệp sẽ được hạn chế tình trạng lãi suất cho vay quá cao. Cơ chế trần như thế cũng không quá quắt. Còn với cơ chế chỉ áp trần lãi suất huy động như hiện nay, chắc chắn sẽ điều chỉnh, chỉ là ngày một ngày hai mà thôi”, ông Kiêm nói.
Có nên bỏ hẳn trần?
Không có trong buổi hội thảo của VIB, nhưng câu hỏi này cũng là một giả thiết mà một số ý kiến đặt ra trong thời gian qua. Ông Cao Sỹ Kiêm cũng nhấn mạnh rằng: “Quan điểm của tôi không có trần lãi suất là tốt nhất, mà để thị trường điều tiết. Nhưng do những thời điểm thị trường bất lợi thì nhà điều hành có biện pháp can thiệp”.
Vậy có nên bỏ trần lãi suất? Một trả lời gián tiếp cho câu hỏi trên là: nếu một trong hai phương án đang được bàn luận hiện thực, liệu có tình trạng lại “thả gà ra đuổi”? Bởi thực tế vài năm gần đây đã có quá đủ tình huống để hoài nghi.
Đó là việc áp cơ chế trần lãi suất cho vay trước đây, cụ thể là lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Cơ chế này khi triển khai có thời điểm dẫn đến nhiều loại phí phát sinh trong hoạt động tín dụng, gián tiếp đẩy lãi suất vay vốn vượt rào và gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp.
Rồi ngay như những ngày qua, việc ngân hàng huy động vốn VND vượt trên trần 14%/năm cũng không còn xa lạ ở mức độ “hiện tượng” nữa.
Vậy thì nếu nới trần lãi suất huy động lên, hay áp trần lãi suất cho vay, những thực tế tương tự có được loại trừ một cách triệt để, hay chỉ êm ả trong một thời gian đầu?
Trong khi đó, quan điểm bỏ hẳn trần lãi suất VND (cả huy động và cho vay) không phải là không có cơ sở. Trong trường hợp này, cung - cầu của thị trường sẽ tạo những điểm đến cân bằng. Trường hợp thị trường có những yếu tố bất lợi như ông Kiêm nói, Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò can thiệp bằng các công cụ kỹ thuật của mình.
Không trần lãi suất, cần vốn, ngân hàng nâng lãi suất để huy động. Lãi suất cho vay theo đó sẽ tăng lên để đảm bảo có lãi. Lãi suất tăng đến một điểm nào đó quá sức người vay, nhu cầu sẽ giảm. Ngân hàng thiếu khách vay sẽ phải cân đối lại nguồn vốn và lãi suất.
Ở thời điểm này, lãi suất cao đang “đánh vào tổng cầu” như quan điểm của Ngân hàng Nhà nước; cầu giảm - tín dụng thu hẹp và đúng như chủ trương đề ra.
Trở lại với hội thảo nói trên, một diễn giả khác là ông Trần Đình Thiên (Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam) cũng đưa ra quan điểm cần quyết liệt ở vấn đề lãi suất chống lạm phát. Lúc này có thể “đau” nhưng sẽ tốt cho dài hạn.
Theo chuyên gia này, trần lãi suất hiện nay là đóng đinh lại! Liệu khi lạm phát lên như vậy thì lãi suất có lên tiếp không? Nhưng nếu lạm phát xuống thì chưa chắc đã xuống ngay.
“Nếu nới lỏng ngay thì cung tiền lên, lạm phát nó lại trở lại ngay, chính các doanh nghiệp sẽ phải trả giá ngay. Tôi cho rằng trong vấn đề lãi suất là phải quyết liệt. Nếu lạm phát giảm thì cũng phải chờ một độ trễ chứ không nên giảm lãi suất ngay.
Lạm phát bất thường thì phải dùng biện pháp không bình thường. Phải mạnh tay níu nó xuống. Doanh nghiệp chịu lãi suất cao thì xiêu vẹo, nhưng chưa phá sản ngay. Nếu mạnh tay thì lạm phát trong ngắn hạn sẽ chuyển biến rất nhanh, và khi đó sẽ từng bước để có cơ chế lãi suất hỗ trợ doanh nghiệp”, ông Thiên phân tích.
Dẫn chứng mà Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đưa ra là những năm gần đây cứ đầu năm chống lạm phát, cuối năm “thành công” khi lạm phát hạ, lại nới lỏng ngay rồi đầu năm tới nó lại đến gõ cửa. Phía sau đó là sự tổn thương niềm tin của doanh nghiệp, người dân; hay cụ thể hơn là lạm phát quãng 2008 đến nay dồn tới khoảng 50%, tức giá trị đồng tiền bị mất đi phân nửa…




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.