09:03 29/07/2008

Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, “ông” là ai?

Thế nào là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì pháp luật lại không quy định rõ ràng

Phải chăng, có trên 49% vốn của nhà đầu tư nước ngoài thì được xem là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và từ 49% trở xuống là doanh nghiệp trong nước?
Phải chăng, có trên 49% vốn của nhà đầu tư nước ngoài thì được xem là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và từ 49% trở xuống là doanh nghiệp trong nước?
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài so với doanh nghiệp trong nướchiện vẫn còn những sự phân biệt đáng kể về quyền lợi và nghĩa vụ.

Thếnhưng, thế nào là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì pháp luậtlại không quy định rõ ràng khiến cho việc thực thi pháp luật trở nênrối mù.

Theo Luật Đầu tư, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanhnghiệp được thành lập bởi nhà đầu tư nước ngoài để thực hiện hoạt độngđầu tư tại Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoàimua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Như vậy, phải chăng nhà đầu tư mua cổphần dù chỉ chiếm 1% vốn của một doanh nghiệp Việt Nam thì doanh nghiệpđó cũng được xếp vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài? Không rõ!

Trong khi đó, khi quy định về thủ tục đầu tư vàthành lập doanh nghiệp Nghị định 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ lại có sựphân biệt về mức độ tỷ lệ sở hữu vốn trong doanh nghiệp mà nhà đầu tưđó tham gia. Cụ thể, đối với trường hợp doanh nghiệp dự định thành lậpcó sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài hơn 49% vốn điều lệ thì phải thựchiện thủ tục đầu tư như dự án 100% vốn nước ngoài; ngược lại, tỷ lệ từ49% trở xuống thì chỉ cần đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký đầu tư nhưđối với một doanh nghiệp trong nước.

Phải chăng, có trên 49% vốn của nhà đầu tư nước ngoài thì được xem làdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và từ 49% trở xuống là doanhnghiệp trong nước? Không rõ nốt!

Cũng theo Luật Đầu tư, trong một doanh nghiệp mà vốn “nội” chiếm trên51% tổng vốn điều lệ thì nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiệnđầu tư như nhà đầu tư trong nước. Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụnglại không hoàn toàn như vậy. Các bộ, ngành và các địa phương mỗi nơivận dụng một kiểu.

Ví dụ, với Bộ Công Thương, doanh nghiệp dù chỉ có 1% vốn của nhà đầu tưnước ngoài cũng được xem là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vàphải bị ràng buộc về hạn chế tiếp cận thị trường thông qua biểu cam kếtvề dịch vụ thương mại với WTO.

Nếu đúng như vậy thì nhiều công ty cổ phần đại chúng sau khi bán mộtphần vốn cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải đăng ký kinh doanh lại đốivới những ngành nghề mà nhà đầu tư nước ngoài bị hạn chế. Đặc biệt, đốivới một số ngành nghề như dịch vụ thuế, phân phối (khi việc xin phépthành lập nhiều hơn một cơ sở bán lẻ)… doanh nghiệp còn phải thực hiệnthủ tục “kiểm tra nhu cầu kinh tế” (*).

Hoặc theo phản ánh của giớiluật sư, có địa phương mặc dù luật quy định doanh nghiệp có dưới 49%vốn “ngoại” thì làm thủ tục thành lập như doanh nghiệp trong nước nhưngthực tế nhà đầu tư vẫn phải thực hiện thủ tục như đối với doanh nghiệp100% vốn nước ngoài.

Ngoài ra, một số khái niệm như “dự án có vốn đầu tư nước ngoài” cũngquy định mù mờ dẫn đến những cách hiểu và vận dụng khác nhau. ÔngNguyễn Đình Cung, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô thuộc Viện Nghiên cứu quảnlý kinh tế Trung ương, cho biết thậm chí có nơi còn cho rằng dự án dùchỉ có 1 Đô la của nhà đầu tư nước ngoài thì dự án đó cũng xếp vào loạidự án đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài và phải thực hiện thủ tục đầu tưnhư dự án đầu tư hoàn toàn 100% vốn nước ngoài.

“Pháp luật không rõ ràng khiến cho việc thực thi, vận dụng trở nên rốirắm, thiếu đồng bộ như những trường hợp nói trên không những gây khókhăn cho nhà đầu tư nước ngoài mà còn gây thiệt hại cho chính các doanhnghiệp trong nước khi nguồn vốn của nước ngoài bị “tắc”, nhất là trongtình hình lạm phát, thiếu vốn hiện nay”, một luật sư nhận xét.

*Kiểm tra nhu cầu kinh tế: là việc xem xét nhu cầu của thị trường(số lượng, tình hình hoạt động của doanh nghiệp); tác động của doanhnghiệp đối với thị trường và nền kinh tế để làm cơ sở cho việc cho phéphay không cho phép thành lập doanh nghiệp.

(Theo TBKTSG)