
Giá vàng trong nước và thế giới
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Thứ Năm, 22/01/2026
Từ Nguyên
05/11/2008, 10:42
Chủ tịch Tập đoàn Bất động sản VinaLand nói về viễn cảnh thị trường bất động sản trong nước
Ông Trần Minh Hoàng, Chủ tịch Tập đoàn Bất động sản VinaLand, trao đổi về viễn cảnh thị trường bất động sản trong nước với VnEconomy.
Thị trường bất động sản đã gặp khó khăn trong một thời gian tương đối lâu. Vậy, về vốn thì hiện các ngân hàng thương mại đã có dấu hiệu “nới tay” với các doanh nghiệp bất động sản chưa, thưa ông?
Đối với các ngân hàng thương mại, nhiều ngân hàng vẫn sợ rủi ro bởi trước đây Ngân hàng Nhà nước khuyến cáo là hạn chế cho vay bất động sản. Hơn nữa, tính thanh khoản của thị trường bất động sản không cao, do mua bán khó khăn.
Thực ra, ngân hàng không e ngại doanh nghiệp bất động sản mà là e ngại rủi ro của ngành kinh doanh này, vì ngân hàng cũng cần cho vay để kiếm lãi.
Tuy nhiên, theo tôi, nếu tiến hành thắt chặt tín dụng bất động sản thì cũng phải phân định rõ là thắt chặt với loại nào và không thắt chặt với loại nào.
Nếu cứ nói thắt chặt chung chung thì sẽ ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt là hệ thống tài chính, đồng thời tạo tâm lý sợ hãi trên thị trường bất động sản, từ đó sẽ dễ dẫn đến hệ lụy là thị trường bị đóng băng. Và khi đó chính ngân hàng lại là đối tượng chịu rủi ro đầu tiên vì không thu hồi được vốn vay.
Theo tôi được biết, hiện có rất nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng đầu tư dở dang do bị ngắt vốn giữa chừng hoặc lãi suất quá cao, cộng với đầu ra khó khăn nên dẫn đến chi phí tăng cao, nợ ngân hàng càng chồng chất…
Ông nghĩ khó khăn của thị trường bất động sản còn kéo dài đến bao giờ?
Thực ra cũng khó dự đoán bởi đây là khó khăn chung của cả thế giới. Hơn nữa thông thường thì sự hồi phục ở các nước kém phát triển bao giờ cũng chậm hơn các nước phát triển.
Bên cạnh đó, dấu hiệu phục hồi của thị trường tài chính thế giới cũng chưa rõ nét bởi quan trọng nhất là lòng tin của giới đầu tư về sự phục hồi vẫn chưa hình thành, nên kinh tế thế giới cũng chưa ổn định.
Và do đó, tôi nghĩ ở Việt Nam cũng phải chờ đợi, ít nhất một vài năm nữa mới mong thị trường hồi phục.
Với riêng VinaLand thì sao, các ông có gặp khó khăn gì về vốn từ ngân hàng không?
Rất may mắn là doanh nghiệp chúng tôi trong thời gian diễn ra khủng hoảng thì chưa triển khai nhiều dự án. Nhưng khi mà ảnh hưởng chung của thị trường thì hoạt động đầu tư, kinh doanh cũng gặp khó khăn.
Ngoài ra, Vinaland hiện cũng đang gặp một số khó khăn chung như các doanh nghiệp khác, như: thủ tục thực hiện dự án bị kéo dài, pháp lý về quy định tài sản khó khăn, tiếp đến là khó khăn về thị trường do nhu cầu mua nhà giảm sút mạnh…
Theo ông, khó khăn kéo dài của các doanh nghiệp bất động sản trong nước liệu có tạo cơ hội “đổ bộ” cho doanh nghiệp nước ngoài?
Tại thời điểm này thì không đáng lo ngại lắm vì ở nước ngoài, các doanh nghiệp cũng đang gặp khó khăn. Thậm chí là chúng ta còn phải tạo điều kiện cho họ vào hợp tác làm ăn với các doanh nghiệp trong nước. Vấn đề là cần phải kết hợp như thế nào để các doanh nghiệp Việt Nam tận dụng được giá trị đất đai khi liên doanh hợp tác.
Tuy nhiên, khi tình hình tài chính thế giới đã ổn định thì nếu mình không cảnh giác và không có cải cách về chính sách, hỗ trợ từ phía nhà nước thì chắc chắn các doanh nghiệp ngoại sẽ mua được những dự án tốt với giá rẻ và khi đó, sự đổ bộ ồ ạt của họ là khó tránh khỏi.
Vậy, ông thấy các doanh nghiệp bất động sản trong nước đã chuẩn bị thế nào cho những diễn biến này?
Về nguyên tắc, khi liên kết thì mỗi bên phải có một thế mạnh riêng để có thể bổ sung cho nhau. Nhưng thực ra thì các doanh nghiệp Việt Nam chỉ có chung một thế mạnh là về đất đai, nhưng lại có chung nhiều điểm yếu, đó là thiếu vốn, yếu kém về quản trị, thương hiệu…
Do vậy, thế mạnh của doanh nghiệp Việt là khó bổ sung cho nhau, nên rất hiếm và cũng rất khó có các doanh nghiệp Việt có thể liên doanh với nhau. Đây cũng là quy luật bình thường của kinh tế thị trường.
Nhưng hiện nay đang xuất hiện một số một xu hướng mới. Chẳng hạn như các doanh nghiệp trong ngành tài chính, chứng khoán đang cho thành lập các quỹ tài chính để thu hút vốn từ xã hội. Nếu các quỹ này phát triển thì đến một lúc nào đó sẽ có sự liên kết giữa các doanh nghiệp có thế mạnh về tài chính với các doanh nghiệp bất động sản, các doanh nghiệp có dự án xây dựng…
Đây sẽ là yếu tố tạo nên sức mạnh cho các doanh nghiệp bất động sản trong nước. Tuy nhiên, cũng cần phải có thời gian, chứ không thể muốn là làm ngay được.
Năm 2025, thị trường công trình xanh tại Việt Nam đạt mức tăng trưởng vượt bậc về số lượng và diện tích sàn đạt chứng nhận xanh. Cùng với đó là sự chuyển dịch về chất lượng với việc phát triển đa dạng loại hình và sự gắn kết chặt chẽ với các định chế tài chính xanh...
Nhiều chuyên gia dự báo trong năm 2026, nguồn tiền đầu tư đổ vào vàng, bất động sản, chứng khoán vẫn rất lớn nhưng sẽ có sự phân hoá rõ rệt.
Thị trường bất động sản Việt Nam đang dần bước vào trạng thái cân bằng hơn khi nguồn cung được cải thiện rõ nét và tiếp tục xu hướng tăng. Thị trường đang dịch chuyển ngày càng rõ sang mô hình phát triển dựa trên cán cân cung - cầu thực và năng lực của các chủ thể tham gia thị trường…
Năm 2026, bất động sản công nghiệp và nhà ở được dự báo sẽ dẫn dắt thị trường. Trong đó, ở phân khúc công nghiệp, nhu cầu tập trung vào đất khu công nghiệp tại một số trung tâm như Bắc Ninh, Hải Phòng, Đồng Nai, cùng với sự mở rộng của nhà xưởng xây sẵn và hệ thống logistics hiện đại. Còn phân khúc nhà ở, các sản phẩm phục vụ nhu cầu ở thực là động lực tăng trưởng bền vững của thị trường…
Theo các chuyên gia, mã định danh điện tử bất động sản có thể giúp nhà nước quản lý chặt chẽ hệ thống dữ liệu quốc gia, biết rõ chủ sở hữu của từng tài sản. Nhìn về lâu dài, mã định danh mang lại tính minh bạch cực lớn. Người mua cũng dễ dàng truy xuất nguồn gốc, tính pháp lý và các điều kiện của dự án, tránh rủi ro lừa đảo...
Chứng khoán
Thế giới
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: