
Làn sóng đầu tư thứ hai của Anh tại Việt Nam với những doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, dầu khí, phần mềm, khai khoáng và viễn thông… đang bắt đầu xuất hiện.
Ngài Robert Gordon, Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam đã khẳng định như vậy khi trao đổi với báo giới về quan hệ kinh tế giữa hai nước.
Với gần 4 năm ở Việt Nam, Đại sứ đã thúc đẩy mối quan hệ giữa Việt Nam và Vương quốc Anh phát triển trên nhiều lĩnh vực. Vậy, đâu là lĩnh vực hợp tác mà ngài hài lòng nhất và đâu là lĩnh vực mà hai nước cần đẩy mạnh trong thời gian tới?
Quan hệ Việt Nam - Anh ngày càng trở nên đa dạng, Anh đã trở thành một trong những nước viện trợ không hoàn lại lớn nhất cho Việt Nam. Việc ký kết Thỏa thuận Quan hệ đối tác phát triển 10 năm giữa hai nước năm 2006 là đỉnh cao trong nhiệm kỳ của tôi.
Cùng với những cơ hội đang mở ra khi Việt Nam đã trở thành thành viên WTO, những thách thức ở các lĩnh vực dễ bị tổn thương của Việt Nam cũng rất lớn. Những lĩnh vực này cần được sự chú ý đặc biệt và chúng tôi đang giúp Việt Nam có được sự chú ý này thông qua Sáng kiến/Dự án “Hậu WTO”.
Một thách thức mới nữa có thể ảnh hưởng đáng kể đối với Việt Nam, đó là thách thức bắt nguồn từ hiện tượng biến đổi khí hậu và trái đất ấm lên. Chúng tôi đã lấy vấn đề biến đổi khí hậu làm chủ đề Buổi tiệc mừng sinh nhật Nữ hoàng Anh tại Hà Nội trong tháng 6 này. Chúng tôi mong muốn hợp tác với Việt Nam để nâng cao nhận thức về vấn đề này, đồng thời giúp các bạn có được những kế hoạch chuẩn bị phù hợp.
Hiện tại, người ta nói nhiều tới làn sóng đầu tư mới từ Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc vào Việt Nam. Là một trong những nhà đầu tư lớn nhất của EU tại Việt Nam, liệu có thể hy vọng vào một làn sóng đầu tư từ Anh trong thời gian tới, thưa Đại sứ?
Anh hiện là một nhà đầu tư quan trọng tại Việt Nam. Chúng tôi tự hào về những gì mà những công ty nổi tiếng của Anh như Prudential, BP, Unilever, Tate& Lyle và các công ty khác đã làm tại Việt Nam.
Với những cơ hội của giai đoạn hậu WTO, Việt Nam đang được biết đến nhiều hơn ở Anh và chúng tôi đã nhìn thấy làn sóng đầu tư thứ hai của Anh tại Việt Nam. Làn sóng này mang đến những doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, dầu khí, phần mềm, khai khoáng và viễn thông.
Nếu những kế hoạch này thành công, số vốn đầu tư mới của Anh có thể rất đáng kể.
Năm 2006, kim ngạch nhập khẩu của Anh từ Việt Nam lớn hơn khoảng 10 lần so với xuất khẩu của Anh sang Việt Nam. Liệu Anh có kế hoạch cân bằng cán cân thương mại với Việt Nam?
Đối với nước Anh, trên thực tế, thương mại có tầm quan trọng ngang bằng với việc hỗ trợ Việt Nam phát triển về mặt kinh tế. Bằng việc mở cửa thị trường cho hàng hoá của Việt Nam, chúng tôi đang tạo ra hàng ngàn việc làm cho người lao động Việt Nam.
Con số thâm hụt thương mại nêu trên chưa phản ánh bức tranh thật về quan hệ buôn bán giữa hai nước, bởi việc tái xuất khẩu qua nước thứ ba cần được tính tới. Thâm hụt thương mại cũng có thể cân bằng một phần nhờ những khoản thu vô hình từ lĩnh vực dịch vụ. Tôi tin rằng, còn nhiều cơ hội xuất khẩu cho hàng hoá của Anh vào Việt Nam.
Để giải quyết những trở ngại đối với cả hai phía trong lĩnh vực thương mại, chúng tôi đang tiến hành xây dựng Ủy ban Hỗn hợp Kinh tế và Thương mại giữa hai nước (Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Tony Blair đã bày tỏ sự ủng hộ lớn đối với việc thành lập Ủy ban này). Cuộc họp đầu tiên của Ủy ban dự kiến diễn ra vào cuối năm nay.
Đại sứ có thể phác thảo một vài hình dung về bức tranh thương mại giữa hai nước trong 5 năm tới?
Đến năm 2012, Việt Nam sẽ hoàn thành các cam kết gia nhập WTO. Khi đó, nền kinh tế hai nước sẽ hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Các sáng kiến khác như Khu vực mậu dịch tự do EU - ASEAN sẽ thúc đẩy quá trình này.
Hàng hoá của Việt Nam sẽ phổ biến ở Anh. Những công ty lớn đầu tiên của Việt Nam sẽ thiết lập văn phòng làm việc tại London. Các công ty Việt Nam sẽ niêm yết nhiều hơn trên thị trường chứng khoán London. Nhiều nhà đầu tư Anh sẽ mua các công ty và các ngân hàng mới được cổ phần hoá của Việt Nam. Người tiêu dùng Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ tài chính và viễn thông của Anh ở ngay tại Việt Nam.
Là một nước có thu nhập ở mức trung bình, Việt Nam sẽ ít phụ thuộc hơn vào các khoản tài chính ưu đãi cho các nhu cầu hạ tầng và tài chính lớn. Chúng ta có thể thấy những quan hệ đối tác tư nhân nhà nước đầu tiên sẽ cung cấp tài chính cho các dự án quan trọng như trường học, bệnh viện ở Việt Nam.




Theo các chuyên gia, việc xây dựng chiến lược đúng đắn và khung pháp lý phù hợp sẽ là điều kiện quan trọng để trung tâm tài chính phát triển...
Đến nay, Hệ thống đầu tư công đã tổng hợp được 2.991 dự án vướng mắc, được phân loại thành 16 nhóm khó khăn, vướng mắc...
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị các cơ quan phối hợp chặt chẽ với Chính phủ hoàn chỉnh dự thảo Luật Hàng không với chất lượng cao nhất, trình Quốc hội xem xét thông qua theo quy trình 1 kỳ họp...
Trong bối cảnh mới, Việt Nam không chỉ thu hút FDI có chọn lọc mà còn phải thúc đẩy mạnh mẽ dòng vốn đầu tư của doanh nghiệp Việt ra thế giới (OFDI). Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trò chuyện với TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước đây), Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp (VIPFA), xung quanh chủ đề này...
TP.HCM đang khẩn trương hoàn thiện Đề án sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 98/2023/QH15 để kịp trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 10 tới. Đề án tập trung vào hai trọng tâm “1 sửa – 1 bổ sung”, nhằm tháo gỡ vướng mắc, tạo cơ chế đột phá thu hút nhà đầu tư chiến lược…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.