
Khi kết quả thu hút FDI đạt kỷ lục được công bố, cũng là lúc có những lo ngại về tỷ lệ giải ngân nguồn vốn này.
>>
Đầu tư nước ngoài: Hãy nhìn ngoài con số
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế của Việt Nam từng lên tiếng: vấn đề lo ngại nhất hiện nay chính là tỷ lệ giải ngân nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam khi đã giảm mạnh trong những năm gần đây. Cụ thể, tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với đăng ký hiện có xu hướng giảm: tỷ lệ của thời kỳ 1988-2005 là 50,3%, của năm 2006 còn 33%, nhưng năm nay chỉ đạt khoảng 23%.
“Chúng ta đang đứng trước một vấn đề là vốn cam kết lớn nhưng năng lực giải ngân không theo kịp. Năm 2007, nếu chúng ta không giải ngân được khoảng 6 tỷ USD thì sẽ rất căng", ông Doanh lý giải.
Số vốn FDI đưa vào thực hiện theo mong muốn của vị chuyên gia kinh tế đã có câu trả lời khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố, vốn giải ngân trong năm 2007 đạt khoảng 4,6 tỷ USD. Như vậy, dù vốn FDI thực hiện năm nay đạt kỷ lục thì tình hình vẫn “rất căng” theo như cách nói của Tiến sĩ Lê Đăng Doanh. Và sẽ “đỡ căng” khi con số của ông đề cập trùng với kế hoạch phấn đấu giải ngân mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra cho năm 2008 là từ 5,6 - 6 tỷ USD.
Tuy nhiên, trao đổi với VnEconomy, Cục phó Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Nguyễn Xuân Trung cho rằng chưa nên quá lo lắng về tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài thực hiện so với tổng vốn đăng ký.
Theo ông Trung, số vốn đầu tư nước ngoài đưa vào thực hiện khoảng 31 tỷ USD trong tổng vốn đăng ký khoảng 78 tỷ USD, tức là chiếm khoảng 37 - 38%, nên so với các nước ở trong khu vực thì tỷ lệ này là ở mức bình thường chứ không phải là thấp.
Đại diện của Cục Đầu tư nước ngoài cho biết thêm, trước đây tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký khoảng 40%, song tỷ lệ này thấp dần trong mấy năm qua là do có nhiều dự án lớn mới hàng trăm triệu USD được cấp phép, đặc biệt trong năm 2006 và 2007 là trên 32 tỷ USD, gần bằng 1/2 của giai đoạn 1988-2007.
“Những dự án lớn mới được cấp phép thì tiến độ giải ngân phải đi theo thời gian và chúng ta hy vọng vào những dự án này khi thực hiện sẽ đẩy nhanh nguồn vốn thực hiện mới lớn hơn”, Cục phó Cục Đầu tư nước ngoài hy vọng. “Chúng tôi sẽ làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính để giảm khoảng cách giữa tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký”.
Tuy nhiên Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng thừa nhận, thu hút được vốn lớn, tuy mừng nhưng mối lo cũng lớn về việc làm sao giải ngân vốn hiệu quả nếu không sẽ làm cho các nhà đầu tư nản lòng, và từ chỗ tin tưởng mà dẫn đến gây cho họ hoài nghi về môi trường đầu tư của Việt Nam.
Cũng chính vì thế, trong năm 2008, Bộ cho biết sẽ tập trung rà soát các dự án hiện có, các dự án đang xem xét để tìm ra khó khăn và tháo gỡ cho nhà đầu tư.




Theo các chuyên gia, việc xây dựng chiến lược đúng đắn và khung pháp lý phù hợp sẽ là điều kiện quan trọng để trung tâm tài chính phát triển...
Đến nay, Hệ thống đầu tư công đã tổng hợp được 2.991 dự án vướng mắc, được phân loại thành 16 nhóm khó khăn, vướng mắc...
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị các cơ quan phối hợp chặt chẽ với Chính phủ hoàn chỉnh dự thảo Luật Hàng không với chất lượng cao nhất, trình Quốc hội xem xét thông qua theo quy trình 1 kỳ họp...
Trong bối cảnh mới, Việt Nam không chỉ thu hút FDI có chọn lọc mà còn phải thúc đẩy mạnh mẽ dòng vốn đầu tư của doanh nghiệp Việt ra thế giới (OFDI). Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trò chuyện với TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước đây), Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp (VIPFA), xung quanh chủ đề này...
TP.HCM đang khẩn trương hoàn thiện Đề án sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 98/2023/QH15 để kịp trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 10 tới. Đề án tập trung vào hai trọng tâm “1 sửa – 1 bổ sung”, nhằm tháo gỡ vướng mắc, tạo cơ chế đột phá thu hút nhà đầu tư chiến lược…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.