
Thông tin cụ thể về lượng tiền cung vào lưu thông, mua ngoại tệ và kế hoạch rút về của Ngân hàng Nhà nước từ năm 2007 đến nay.
Con số 9 tỷ USD mà Ngân hàng Nhà nước mua vào trong năm 2007 đến nay vẫn được dư luận quan tâm; đặc biệt ở con số khoảng 150.000 tỷ đồng được đưa ra để mua và kế hoạch rút về cân đối.
Một lần nữa, những kế hoạch trên lại được đại biểu Quốc hội đặt ra chất vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu. Sự quan tâm đó nay tươi mới hơn cả trong năm 2007, khi lạm phát đang dâng cao và có yếu tố tác động của cung tiền.
Thông tin từ Thống đốc cho biết, trong năm 2007, lượng tiền Ngân hàng Nhà nước cung ứng vào lưu thông bằng 82% chỉ tiêu kế hoạch mà Thủ tướng phê duyệt. Lượng tiền mà cơ quan điều phối rút từ lưu thông đã đạt 80% lượng tiền đã cung ứng để mua ngoại tệ.
Các biện pháp chủ yếu được triển khai là tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, thu hồi các khoản cho vay, tái cấp vốn đến hạn…
Theo Thống đốc, những biện pháp đó bước đầu đã đưa các chỉ tiêu tiền tệ biến động theo hướng góp phần kiềm chế lạm phát; tổng phương tiện thanh toán đến tháng 5/2008 chỉ tăng 3,73% so với cuối năm 2007, thấp hơn so với mức tăng 17,57% cùng kỳ năm trước.
Lượng cung tiền nói trên cũng đứng trước áp lực hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu khi gặp khó khăn trong việc bán ngoại tệ tại một số thời điểm. Cao điểm, có ngày các ngân hàng thương mại đăng ký bán cho Ngân hàng Nhà nước lên đến 739 triệu USD. Trong khi đó cơ quan này can thiệp còn ở mức thấp vì mục tiêu kiềm chế lạm phát.
Trước áp lực hai chiều từ giải tỏa “ứ đọng” ngoại tệ và kiềm chế lạm phát, các quyết định cung VND mua USD của Ngân hàng Nhà nước đều phải tuân thủ chỉ tiêu mà Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Ngoài những áp lực đó, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho rằng việc mua vào cũng là một cơ hội để gia tăng lượng dự trữ ngoại hối. Còn với sự quan tâm của một số đại biểu Quốc hội, phía những áp lực đó phải là sự nhịp nhàng và kịp thời giữa các bước cung và hút tiền về.
Theo giải trình của Thống đốc, ngay khi nhận nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ, một trong những công tác mà ông chỉ đạo triển khai ngay là nỗ lực hút tiền trong lưu thông về.
Cụ thể, ngay trong tháng 8/2007, nhận công tác mới, Thống đốc đã chỉ đạo phát hành tín phiếu và hút về 46.000 tỷ đồng; trong tháng 9 tiếp theo là 19.000 tỷ, tháng 10 là 30 nghìn tỷ…
“Chúng tôi cũng làm quyết liệt để góp phần cùng với đất nước kiểm soát lạm phát cũng như tăng giá”, Thống đốc nói.
Một điểm khác mà một số đại biểu Quốc hội nhấn mạnh trong phiên chất vấn chiều 30/5 là Thống đốc nói gì về việc thắt chặt chính sách tiền tệ đột ngột dẫn đến những xáo trộn của hệ thống ngân hàng cũng như khó khăn của nhiều doanh nghiệp?
Về nội dung này, Thống đốc giải thích rằng chính sách thắt chặt tiền tệ đã được “phát tín hiệu” từ trước đó. Cụ thể, ngày 28/5/2007, thấy tín hiệu tiền thừa trong lưu thông, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ra quyết định tăng dự trữ bắt buộc lên gấp đôi. “Có nghĩa từ đây đã phát tín hiệu hoàn toàn thắt chặt chính sách tiền tệ”, Thống đốc nói.
Sau đó, ngày 1/8/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 18; đến ngày 31/10/2007, Thủ tướng ra tiếp Chỉ thị số 23 thể hiện định hướng thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát…
Những tín hiệu trên đã tạo một độ trễ nhất định để các ngân hàng và doanh nghiệp chủ động với bối cảnh mới. Trong các quyết định tăng dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu bắt buộc để hút tiền về, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tạo một độ trên từ trễ 1 đến gần 2 tháng để các ngân hàng chuẩn bị.
Và theo khẳng định của người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước, hiện tại tính thanh khoản của các ngân hàng, sau loạt kế hoạch rút tiền thắt chặt tiền tệ, vẫn đảm bảo bình thường và không có nguy cơ đổ vỡ hệ thống.
Tuy nhiên, Thống đốc cho biết một số ngân hàng mới chuyển đổi từ mô hình nông thôn lên đô thị chưa chuẩn bị kịp đã gặp phải một số khó khăn; Ngân hàng Nhà nước đã và đang có sự hỗ trợ cần thiết.
Còn với các doanh nghiệp, nhà điều hành chính sách tiền tệ và các ban ngành liên quan đang tiếp tục xây dựng những giải pháp hỗ trợ, bên cạnh việc tiếp tục triển khai các giải pháp kiềm chế tốc độ của lạm phát…




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.