
Xung quanh câu chuyện trần lãi suất hiện nay, năng lực và ứng xử của Ngân hàng Nhà nước lại đứng trước những hoài nghi.
Sau gần 6 năm thực hiện cơ chế thỏa thuận, lãi suất các ngân hàng thương mại đang có hơi hướng đi vào khung quản lý hành chính.
Trần lãi suất có phải là giải pháp cuối cùng?
Tháng 2/2008, thị trường ngân hàng biến động mạnh với những đợt lãi suất dâng cao chưa từng thấy. Khả năng mất thanh khoản cục bộ của hệ thống được cảnh báo, dòng tiền xáo trộn giữa các ngân hàng, lãi suất cho vay đột biến…
Diễn biến trên có nằm trong dự báo của Ngân hàng Nhà nước? Nếu có, nhà điều hành này phải xem lại năng lực của mình khi để những bất ổn đó diễn ra quá mạnh và căng thẳng. Nếu vượt tầm dự báo, Ngân hàng Nhà nước cũng phải xét lại khả năng nắm bắt xu hướng thị trường.
Và khi lãi suất huy động VND của các ngân hàng lên đỉnh điểm trên 12%, kỷ lục là 12,4%/năm, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lập tức có công điện áp trần lãi suất 12%/năm.
Với thị trường, công điện đó được đánh giá ở tính kịp thời và khả năng mang lại sự ổn định nhất thời. Nhưng phía sau đó cho thấy sự bất lực của nhà điều hành trong khả năng bình ổn bằng những công cụ sẵn có.
Lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại là mục tiêu của chính sách tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước sử dụng các công cụ riêng có như các lãi suất chủ chốt, thị trường mở… để gián tiếp điều chỉnh. Nhưng trong trường hợp trên, lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại trở thành công cụ trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước, thông qua việc áp trần.
Sẽ là “lên điểm” và chuyên nghiệp hơn khi Ngân hàng Nhà nước sử dụng các công cụ riêng có để bình ổn được biến động lãi suất vừa qua. Nhưng để xẩy ra biến động mạnh, có nguy cơ kéo dài và buộc phải dùng đến mệnh lệnh áp trần như một giải pháp cắt cơn cuối cùng thì có thể đã “mất điểm” trong mắt giới quan sát và chính các thành viên thị trường.
Phía sau việc áp trần, các ngân hàng buộc đồng thuận, nhưng chưa hẳn đã đồng lòng. Thực tế là vẫn có những hình thức khuyến mãi vượt trội, gián tiếp đẩy lãi suất lên cao và bị cho là cạnh tranh không lành mạnh.
Phía sau Công điện số 02 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc áp trần lãi suất huy động VND 12%/năm, tính thị trường của lãi suất bị thắt lại. Sau gần 6 năm thực hiện cơ chế thỏa thuận (từ tháng 6/2002), lãi suất lại trở về cơ chế “cho đến đâu, tăng đến đấy”.
Tất nhiên, giải pháp trần lãi suất chỉ là tình thế; Ngân hàng Nhà nước còn có lý do vì an toàn và ổn định của hệ thống. Nhưng phía sau đó bộc lộ một phần năng lực và ứng xử của nhà điều hành trong tình huống để xảy ra thử thách.
Vẫn còn câu hỏi lớn?
Ngày 7/4, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo “trước mắt, không duy trì việc quy định lãi suất huy động trần”. Đến thời điểm này, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có bất cứ thông tin nào công bố về việc bỏ trần theo chỉ đạo trên.
Có thể quy định trong Công điện số 02 không còn quá quan trọng, khi các ngân hàng thương mại đã ngồi lại với nhau và cùng thống nhất đưa ra trần lãi suất thỏa thuận 11%/năm. Nhưng điểm đáng chú ý là ngày thực hiện có từ 2/4, nhưng thời hạn thực hiện trần thỏa thuận đó không thấy đề cập đến.
Và khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ không duy trì việc quy định lãi suất huy động trần nữa, điều gì sẽ xẩy ra?
Câu trả lời là sự lo ngại đang dần xuất hiện trên thị trường, khi lãi suất liên ngân hàng vừa có những biến động mạnh, đỉnh điểm đã lên tới 16%. Khi rào cản trần lãi suất thỏa thuận giữa các ngân hàng không đưa ra thời hạn thực hiện cụ thể, việc “phá rào” hoàn toàn có thể xẩy ra, lãi suất sẽ lại bước vào đợt biến động mới.
Câu hỏi lớn đang dồn về Ngân hàng Nhà nước. Liệu cơ quan này có đủ khả năng bình ổn lãi suất thị trường bằng những công cụ của mình, khi “liều kháng sinh” của cơ chế trần không được sử dụng, không được can thiệp trực tiếp?
Tất nhiên, Ngân hàng Nhà nước cũng có cái khó trong điều hành. Như công cụ lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu không thể phát huy vai trò một cách trọn vẹn khi cung tiền vẫn phải theo định hướng của Chính phủ, theo mục tiêu kiềm chế lạm phát. Công cụ thị trường mở cũng đã được dốc sức trong thời gian qua…
Mặt khác, trong chỉ đạo ngày 7/4 nói trên, Thủ tướng Chính phủ cũng nêu rõ yêu cầu “từng bước hướng tới thực hiện chính sách lãi suất thực dương theo cơ chế thị trường”, mà lạm phát năm nay theo một số dự báo có thể vượt mức 12%.
Theo đó, câu chuyện lãi suất và bình ổn lãi suất vẫn còn trong lo ngại.




Từ đầu năm đến nay, bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp và tác động mạnh đến Việt Nam, đặc biệt là điều hành chính sách tiền tệ. Sự kiên định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, không gây áp lực lên hệ thống ngân hàng; kết hợp hài hòa giữa tài khóa và tiền tệ, đã cho thấy cách tiếp cận vấn đề một cách phù hợp. Trong buổi làm việc với các ngân hàng thương mại ngày 13/8, Thủ tướng Lê Minh Hưng ghi nhận thành công của hoạt động điều hành chính sách tiền tệ; đồng thời cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với ngành ngân hàng trong những tháng cuối năm.
Việc tiền gửi liên tục lập “kỷ lục” một phần do đây là số dư tích lũy qua nhiều kỳ, trong đó có phần lãi nhập gốc, chứ không đồng nghĩa người dân vừa đưa một lượng tiền mới tương ứng vào hệ thống ngân hàng…
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước thường xuyên đánh giá “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, điều hành các công cụ chính sách chủ động, linh hoạt, đúng thời điểm, đúng liều lượng...
Từ đầu năm 2026 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai 618 cuộc thanh tra, ban hành kết luận đối với 438 cuộc, qua đó phát hiện tổng số tiền vi phạm về kinh tế là 562.468 tỷ đồng...
Ngân hàng Nhà nước cho biết đến cuối tháng 6/2026, dư nợ cấp tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của hệ thống tổ chức tín dụng đạt 5,146 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2025 và chiếm 25,5% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế; nợ xấu tăng 10,5%...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Lần đầu tiên trong luật pháp Việt Nam có một khái niệm, triết lý trong thiết kế luật, đó là chuỗi - dự án theo chuỗi đồng bộ các hạng mục công trình trên biển, đất liền, từ thượng nguồn tới hạ nguồn. Đó là chia sẻ từ ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội khi nhắc đến Luật Dầu khí (sửa đổi) 2026.