
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố một loạt số liệu về đầu tư và cơ cấu tài chính của giáo dục Việt Nam.
Bản thống kê số liệu cho thấy sự mất cân đối trong phân phối tiền ngân sách. Việc chi phí cho học tập bao gồm học phí và 5 khoản chi khác gồm: đóng góp cho trường lớp, mua sách giáo khoa, đồ dùng học tập, học thêm, quần áo đồng phục. Cộng tất cả học phí và 5 khoản còn lại thành chi phí học tập thì chi phí học tập gấp 2,2-2,7 lần học phí.
Với tổng số tiền từ ngân sách Nhà nước cho giáo dục - đào tạo như năm 2006 là 54.798 tỷ đồng thì ngành giáo dục đã dùng tới 81,8% tổng số tiền này để chi thường xuyên, số tiền để chi cho đầu tư chỉ là 10.000 tỷ đồng, chiếm 18,2%.
Chi th
ư
ờng xuy
ên nhi
ều,
đ
ầu t
ư kh
ông
đ
áng k
ể
Tỷ lệ này khi về các địa phương còn tiếp tục mất cân đối nghiêm trọng hơn. Với 40.458 tỷ đồng ngân sách giáo dục rót về các địa phương thì có tới 34.578 tỷ để dành cho việc chi thường xuyên, chi cho đầu tư chỉ là 5.880 tỷ đồng. Như vậy, với tổng chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục như năm 2006 thì chủ yếu số tiền này chỉ được dùng vào chi tiêu thường xuyên, tiền dành cho đầu tư hầu như không đáng kể.
Trong khi đó, tiền đầu tư ở đây được tính cho những việc như nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, trường lớp, đổi mới phương pháp dạy và học... Trong các năm 2005, 2004, tình hình chi cũng tương tự khi chi thường xuyên của năm 2005 chiếm tới 83,2%, năm 2004 là 82,3%.
Về việc sử dụng tiền cho các chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục - đào tạo cũng có sự "thiên vị" rõ rệt khi riêng việc đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa đã "ngốn" tới 1.120,5 tỷ đồng, trong khi đó, chi cho các chương trình khác như phổ cập giáo dục tiểu học chỉ có 150 tỷ; đưa cán bộ tin học và đưa tin học vào nhà trường 78 tỷ; bồi dưỡng giáo viên, tăng cường cơ sở vật chất hệ thống trường sư phạm 275 tỷ; tăng cường cơ sở vật chất trường học 516 tỷ; tăng cường năng lực đào tạo nghề 500 tỷ...
Theo bảng tính cho giáo dục - đào tạo, bình quân cho một người đi học từ mầm non đến đại học trong 12 tháng trong năm 2002 cho thấy, người đi học trung bình phải trả khoảng 627 nghìn đồng, trong đó học phí là 174 nghìn đồng (chiếm 27%), đóng góp cho trường lớp là 67 nghìn đồng (chiếm 11%), sách giáo khoa là 67 nghìn đồng (chiếm 11%), dụng cụ học tập 56 nghìn đồng (9%), học thêm (trường, nơi khác) là 125 nghìn đồng (20%), quần áo đồng phục là 48 nghìn đồng (8%). Chi cho giáo dục khác là 90 nghìn đồng (chiếm 14 %).
Đến năm 2006, người đi học phải trả trung bình 1.142 nghìn đồng. Đặc biệt, số tiền phải trả cho các khoản chi khác trong giáo dục đã tăng từ 90 nghìn đồng lên tới 225 nghìn đồng, chiếm 21% tổng chi, tăng 7% so với năm 2002.
C
àng chi, c
àng b
ỏ h
ọc
Tính toán của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy độ chênh lệnh giữa mức phí phải đóng góp của từng cấp học so với thu nhập bình quân có mức "vênh" đáng kể.
Với mẫu giáo thu nhập bình quân ở thành thị năm 2006 là trên 1 triệu đồng, học phí phải đóng là 80.000 đồng/tháng (chiếm 7,6% thu nhập), thì ở nông thôn cũng thời điểm này thu nhập chỉ trên 500.000 đồng/tháng, học phí phải đóng là 20.000 đồng/tháng (chiếm 4%). Và thu nhập ở miền núi giảm còn 395.000 đồng/tháng, học phí phải đóng là 15.000 đồng/tháng (chiếm 3,7%).
Năm 2006, nếu tính phần đóng góp của người dân cho hệ thống giáo dục - đào tạo là chi cho học tập của con em ở trường công lập và ngoài công lập thì tỷ lệ đóng góp của Nhà nước cho giáo dục - đào tạo cả nước là 75%, đóng góp của người dân là 25%.
Xét trên phạm vi cả nước và trong toàn bộ hệ thống giáo dục - đào tạo, các trường công lập đang đào tạo khoảng 86,27% tổng số học sinh, sinh viên, tổng chi của Nhà nước cho giáo dục - đào tạo chiếm 75% tổng chi xã hội cho giáo dục - đào tạo. Trên 13,7% tổng số học sinh, sinh viên đang học trong các trường ngoài công lập, tổng đóng góp của người dân chiếm 25% tổng chi cho giáo dục - đào tạo.
Theo bản tính toán thì số tiền dành chi cho phổ cập giáo dục tiểu học, duy trì kết quả phổ cập, thực hiện phổ cập giáo dục trung h
ọc c
ơ s
ở
đã tăng gấp 10 lần, từ 15 tỷ đồng của năm 2002 lên thành 150 tỷ đồng vào năm 2006.
Tuy nhiên, kết quả đang phản ánh xu hướng ngược lại. Số trẻ em từ 11 đến 14 tuổi là 6,810 triệu em, số học sinh trung h
ọc c
ơ s
ở
là 6,152 triệu em, chiếm tỷ lệ 90,3%, tức là có gần 10%, tương đương với hơn 600 nghìn trẻ em tốt nghiệp tiểu học không học lên trung h
ọc c
ơ s
ở
và đã bỏ học. Số học sinh bỏ học khi học hết trung h
ọc c
ơ s
ở
còn lên tới hơn 2 triệu học sinh.
Năm 2006, số người đi học từ 15 đến 17 tuổi là 5,540 triệu nhưng tổng số học sinh trung h
ọc ph
ổ th
ông
chỉ là 3,075 triệu, chiếm tỷ lệ 55,5%. Như vậy khoảng 44,5 % học sinh tốt nghiệp trung h
ọc c
ơ s
ở
nhưng không học tiếp lên trung h
ọc ph
ổ th
ông
.




Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi xanh, xu hướng già hóa dân số cùng sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng toàn cầu đang làm thay đổi nhu cầu tuyển dụng, yêu cầu về kỹ năng và cơ hội việc làm. Thách thức đặt ra không chỉ là tạo việc làm cho thanh niên, mà còn là giúp họ tiếp cận được việc làm năng suất, thỏa đáng và có khả năng thích ứng với những thay đổi ngày càng phức tạp của thị trường lao động…
Gần 2.000 cơ hội việc làm được các doanh nghiệp mang đến cho người lao động tại 4 xã phía Nam Hà Nội, trong có có nhu cầu nhân lực tại nhiều dự án trọng điểm quốc gia như: Dự án Trục không gian Quốc lộ 1A gắn với chỉnh trang và tái thiết đô thị; Khu đô thị thể thao Olympic...
Cuộc đua phát triển trên toàn cầu đang bước sang một giai đoạn mới, khi lợi thế quốc gia ngày càng được quyết định bởi khả năng tạo ra, hấp thụ và chuyển hóa tri thức. Điều đó đặt đại học trước một sứ mệnh lớn lao: không chỉ sản sinh tri thức, mà còn phải đưa tri thức vào thực tiễn để giải quyết những bài toán phát triển của đất nước. Bởi vậy, việc thăng hạng, gia tăng công bố và đào tạo nhân lực là cần thiết nhưng chưa đủ, thước đo quan trọng hơn là tri thức từ đại học có được chuyển hóa thành năng lực quốc gia hay không?
Việt Nam đã ban hành nhiều chiến lược, chính sách về phát triển nguồn nhân lực, từ thu hút, trọng dụng nhân tài, phát triển đội ngũ trí thức đến đào tạo nhân lực cho những ngành, lĩnh vực mới nổi như AI và bán dẫn. Tuy nhiên, bài toán đặt ra hiện nay là làm thế nào kết nối những mảnh ghép này thành một hệ thống thống nhất, gắn với nhu cầu nhân lực thực tế của nền kinh tế và mục tiêu phát triển đến năm 2045...
Thay vì cách xác định phụ cấp gắn với hạng trường, phân loại cơ sở, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất xác định phụ cấp theo vị trí việc làm, chức vụ quản lí tương ứng... nhằm cắt giảm triệt để gánh nặng thủ tục hành chính...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Nhiều tuyến đường ở Vinh, Nghệ An ngập sâu sau nhiều giờ mưa lớn, giao thông gặp khó khăn. Chính quyền địa phương đang tăng cường lực lượng ứng trực, hỗ trợ người dân và khơi thông hệ thống thoát nước.