
Thông tin Việt Nam sẽ phải nhập khẩu than từ năm 2012 đã làm không ít người băn khoăn
.
>>
Việt Nam có thể phải nhập than từ năm 2012
/
Việt Nam sẽ khủng hoảng thiếu năng lượng, nếu...
VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Khắc Thọ, Phó vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng (Bộ Công Thương) để làm rõ hơn về thông tin này.
Theo tính toán, trữ lượng than của Việt Nam có thể khai thác tới thời điểm nào, thưa ông?
Theo ước tính, riêng trữ lượng than ở khu vực Quảng Ninh ở độ sâu từ 300-1.000m có thể lên tới 10 tỷ tấn. Ngoài ra, tại khu vực đồng bằng sông Hồng trữ lượng than còn lớn hơn nhiều lần.
Tuy nhiên, trữ lượng và khả năng khai thác là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, chưa thể khẳng định là chúng ta sẽ có thể khai thác than trong thời gian bao lâu.
Cũng có thể trong thời gian tới, chúng ta lại phát hiện thêm những mỏ than mới hoặc sẽ tính toán chính xác hơn về trữ lượng.
Năm 2008, sản lượng khai thác của ngành than sẽ đạt khoảng bao nhiêu triệu tấn? Trong đó sản lượng xuất khẩu chiếm bao nhiêu phần trăm?
Theo kế hoạch sản xuất kinh doanh mà Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam đã đăng ký với Bộ Công Thương, trong năm 2008 sản lượng khai thác sẽ vào khoảng 40 triệu tấn. Sản lượng xuất khẩu là 19,5 triệu tấn, chiếm khoảng 50% sản lượng.
Trong khi đó, theo tính toán, tới năm 2012, Việt Nam sẽ trở thành nước nhập khẩu than. Ông có thể lý giải điều này?
Đây không phải là điều bất bình thường.
Trên thực tế để đạt được sản lượng từ 47-50 triệu tấn than nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước vào năm 2010, ngay từ bây giờ, ngành than đã phải tập trung đầu tư vào máy móc trang thiết bị, xây dựng hầm lò để tăng dần sản lượng qua các năm.
Tuy nhiên, hiện nhu cầu trong nước vẫn chưa thực sự tăng mạnh. Thêm vào đó do cấu tạo địa chất, có nhiều loại than khi khai thác lên mà công nghệ trong nước chưa thể sử dụng thì những loại than này được xuất ra nước ngoài để tái đầu tư cho sản xuất cũng là điều dễ hiểu.
Nhưng đến một giai đoạn nhất định, khi nền kinh tế của chúng ta phát triển mạnh thì nhu cầu đối với các loại nhiên liệu sẽ tăng cao. Đặc biệt là một số loại than nhiệt sử dụng trong các nhà máy nhiệt điện mà trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu, chúng ta sẽ phải nhập khẩu.
Khi đã lường trước được điều này, trong quá trình sản xuất kinh doanh, tại sao ngành than lại không cân đối một cách hài hòa nhất để kéo dài thời gian trước khi phải nhập khẩu than?
Trong chiến lược phát triển ngành than năm 2015 tầm nhìn tới năm 2025 mà Bộ Công Thương vừa trình Thủ tướng Chính phủ, đã định hướng ngành than phải đặc biệt quan tâm tới việc đáp ứng tối đa nhu cầu trong nước và giảm dần xuất khẩu để đẩy lùi thời điểm nhập khẩu càng chậm lại càng tốt.
Rất có thể, thời điểm đó là vào năm 2015 chứ không phải là năm 2012.
Tuy nhiên, việc xác định trước thời điểm chúng ta sẽ phải nhập khẩu than cũng là để cho Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam có sự chuẩn bị trước cho các cuộc tham khảo thị trường và đàm phán trước với các đối tác; cũng như định hướng phát triển ngành, sử dụng những công nghệ phù hợp để sàng tuyển ra những loại than phù hợp với nhu cầu sử dụng trong nước.
Khi than phải nhập khẩu, liệu các hộ sử dụng lớn trong nước có được chủ động tìm đối tác cung cấp cho mình?
Trong quan điểm của cơ quan quản lý, Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam vẫn là đơn vị đầu mối. Tập đoàn sẽ phối hợp với các đơn vị này để cân đối và lập kế hoạch nhập khẩu than hàng năm theo quy định.
Từ ngày 19/8/2029, các quy định mới của EU về tên gọi thịt và sản phẩm thịt sẽ chính thức được áp dụng. Quy định không chỉ tác động đến doanh nghiệp thực phẩm tại châu Âu mà còn đặt ra yêu cầu rà soát đối với hàng hóa nhập khẩu, trong đó có thực phẩm chay, vegan, plant-based và các sản phẩm thay thế thịt của Việt Nam...
Những sản vật gắn liền với đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước cơ hội lớn để bước ra thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, để chuyển hóa từ lợi thế bản địa thành thương hiệu quốc tế, các doanh nghiệp và hợp tác xã không chỉ cần sản phẩm ngon, mà phải chuẩn hóa quy trình, thay đổi tư duy sản xuất và tận dụng hiệu quả các chính sách bệ phóng...
Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, việc tăng cường liên kết sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu quốc gia được xem là những giải pháp cấp thiết để nâng cao giá trị gia tăng cho ngành hàng hồ tiêu...
Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng chú trọng nguồn gốc và chất lượng sản phẩm, Na Uy tiếp tục giữ vững vị thế là nguồn cung cá hồi Đại Tây Dương lớn nhất tại thị trường Việt Nam...
Trong bối cảnh rào cản thương mại, thuế quan và yêu cầu kỹ thuật ngày càng gia tăng, năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản không còn được quyết định bởi sản lượng hay giá thành. Để duy trì tăng trưởng, ngành cần giữ vững khách hàng, chủ động thích ứng với biến động chính sách, mở rộng thị trường và hình thành thêm các trụ tăng trưởng mới đủ lớn nhằm giảm thiểu rủi ro trong dài hạn...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Xu hướng chăm sóc sức khỏe chủ động đang ngày càng tác động đến cách du khách lựa chọn điểm đến. Đây được xem là dư địa để Việt Nam phát triển du lịch wellness, kết hợp nghỉ dưỡng, trị liệu, dinh dưỡng và trải nghiệm thiên nhiên.