
Trong môi trường kinh tế đổi mới, chính trị, xã hội ổn định, dịch vụ và xuất khẩu dịch vụ Việt Nam đã khởi sắc.
Từ chỗ chỉ có số dịch vụ đếm trên đầu ngón tay và chỉ do doanh nghiệp Nhà nước độc quyền kinh doanh, thậm chí có ngành được đặt trong sự giám sát đặc biệt, ngày nay đã có nhiều doanh nghiệp của các thành phần kinh tế tham gia, trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đã tạo diện mạo mới của dịch vụ và xuất khẩu dịch vụ.
Danh mục sản phẩm dịch vụ đã kéo dài, trong đó có sự xuất hiện và bứt phá của những ngành có hàm lượng chất xám cao, thừa hưởng được thành quả của sự bùng nổ công nghệ thông tin. Hiện có tới khoảng 70 loại hình dịch vụ đã được xuất khẩu, cơ sở dịch vụ được nâng cấp, xây mới khang trang, trang bị kỹ thuật tiên tiến, hướng dần tới trình độ khu vực, quốc tế.
Thị trường xuất khẩu dịch vụ đang ngày càng được mở rộng, với sản phẩm có vị thế nhất định như gia công phần mềm đứng thứ 4 (sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ ) cùng trong dịch vụ này cho Nhật Bản. Những thành phố lớn - trung tâm kinh tế hàng đầu cũng là những trọng điểm về phát triển dịch vụ nói chung và xuất khẩu dịch vụ nói riêng. Khách hàng của dịch vụ xuất khẩu nhiều, trong đó không ít là các khách hàng cao cấp đến từ các nền kinh tế mạnh.
Kết quả 5 năm 2001 - 2005 kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 21,824 tỷ USD, tăng trưởng 15,7% năm, cao hơn chỉ tiêu đặt ra trong chiến lược của giai đoạn này (15%), chiếm tỷ trọng 10,8% GDP của 5 năm đó.
Tuy vậy chất lượng của khá nhiều sản phẩm dịch vụ còn thấp so mặt bằng quốc tế, tính chuyên nghiệp và tác phong công nghiệp trong thực hiện các dịch vụ còn lóng ngóng, giá dịch vụ chưa có khả năng cạnh tranh cao, chưa thỏa dụng được yêu cầu phục vụ của các đối tượng ngày càng đa dạng và cao cấp.
Dịch vụ logistics được coi là tâm điểm của sự phát triển kinh tế, thương mại tại nhiều nước. Đây là lĩnh vực "hái ra tiền", nhiều doanh nghiệp, tập đoàn nhắm tới song ở Việt Nam hiện chưa có cơ sở nào đủ tầm cỡ kinh doanh logistics theo đúng nghĩa, mà chỉ mới tham gia được một vài công đoạn của chuỗi dịch vụ này. Ví như trong vận tải ngoại thương, đội thương thuyền quốc tế của ta đã thiếu lại cũ, nên khi xuất hàng, nước ngoài mang tầu đến Việt Nam chở ( bán FOB ); còn khi nhập hàng cũng lại nước ngoài mang đến giao tận cảng Việt Nam (mua CIF).
Việt Nam có địa điểm du lịch sinh thái với cảnh trí thiên nhiên trời phú nhưng chưa đầu tư nhiều vào tôn tạo cảnh quan, bảo vệ môi trường; cũng có mặt bằng vui chơi giải trí ở vị trí đắc địa nhưng chẳng đầu tư, để cơ sở tuyềnh toàng khiến khách đến một lần, không ngoái đầu trở lại…
Chiến lược xuất khẩu dịch vụ giai đoạn 2006- 2010 phải được triển khai tới từng ngành, phân đoạn bước đi trọng tâm trong mỗi năm. Từ đó rà soát, sửa đổi bổ sung cơ chế, chính sách thuế, đầu tư, thế chấp, tín dụng... theo hướng khuyến khích việc tích tụ và tập trung mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho dịch vụ, vừa phù hợp với các định chế quốc tế vừa thích hợp với thực trạng của Việt Nam. Xúc tiến xây dựng thương hiệu dịch vụ quốc gia Việt Nam. Chấn chỉnh công tác hạch toán - thống kê dịch vụ theo chuẩn quốc tế. Tiếp tục cải cách hành chính trong quản lý, thủ tục kiểm tra trên đường hành trình, quá cảnh tại cửa khẩu, nơi lưu trú.
Bên cạnh đó, cần khẩn trương xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho dịch vụ, trước hết là đường sá, điện lực, viễn thông, trong đó các trung tâm kinh tế lớn đi đầu làm khuôn mẫu cho các địa phương khác. Cơ sở xây mới phải đạt trình độ khu vực, quốc tế từ quy mô đến trang bị kỹ thuật, bộ máy vận hành, để các tổ chức và cá nhân nước ngoài đến Việt Nam có thể dùng dịch vụ của Việt Nam.Cần kết hợp xúc tiến của các ngành dịch vụ với xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư để nâng cao năng lực và hiệu quả tiếp thị các nhu cầu dịch vụ từ nước ngoài. Xây dựng được mạng lưới tai mắt về nhu cầu dịch vụ thông qua các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cùng kiều bào ta để nhận được những gói thầu chính, hợp đồng gốc...
Mặt khác, cần đầu tư mạnh cho đào tạo và tuyển dụng nguồn lực cho xuất khẩu lao động, đáp ứng được yêu cầu nhân lực chất lượng cao của những nền kinh tế phát triển và cả lao động phổ thông. Tổ chức và khai thác tốt thị trường khách du lịch quốc tế, chú trọng các nguồn khách du lịch có thu nhập cao đến từ các nền kinh tế mạnh và thu hút cả nguồn khách thu nhập bình dân nhưng số lượng đông.
Ngoài ra, cần nhanh chóng quốc tế hóa và xã hội hóa đào tạo nguồn lực để có nhân lực kỹ thuật tiên tiến. Theo đó sẽ tranh thủ hợp tác quốc tế để tiếp thu khoa học cơ bản cùng kinh nghiệm, đào tạo những chuyên gia đầu ngành soạn thảo chiến lược, hoạch định cơ chế chính sách, làm giám đốc điều hành đơn vị, thiết kế các "mẫu sản phẩm" dịch vụ cao cấp. Nhà nước phối hợp với các hiệp hội ngành huy động năng lực của cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức huấn luyện đội ngũ quản đốc cấp cơ sở, nhân viên thao tác, kỹ năng "bán" các sản phẩm dịch vụ cao cấp đó.
Tất cả những việc làm nói trên đều nhằm thực hiện mục tiêu xuất khẩu dịch vụ giai đoạn 2006 - 2010 đạt tốc độ tăng bình quân 16,3%/năm, đạt 12 tỷ USD vào năm 2010, tạo nền móng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tiếp theo.
Sự kết hợp giữa chính sách kiến tạo của Nhà nước, sự đồng hành từ các nền tảng công nghệ và tinh thần đổi mới sáng tạo đang tạo đà bứt phá cho thế hệ doanh nhân trẻ đưa sản phẩm Việt chinh phục thị trường toàn cầu thông qua xuất khẩu trực tuyến...
Dù sở hữu tiềm năng lớn và giá trị văn hóa độc đáo, song nông sản vùng cao Việt Nam vẫn gặp khó về quy mô, công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Để tháo gỡ điểm nghẽn, cần chiến lược tổng thể từ đổi mới chính sách, liên kết chuỗi giá trị đến sự chủ động của doanh nghiệp và hợp tác xã...
Tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư quốc tế năm 2026 giữa Điện Biên, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và tỉnh Luông Pha Bang (Lào), tỉnh Điện Biên đã trao 20 quyết định chấp thuận nhà đầu tư với tổng vốn gần 7.500 tỷ đồng, ký 6 biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư với tổng vốn cam kết trên 12.000 tỷ đồng….
Với vị trí tiếp giáp Lào và Trung Quốc, cùng hệ thống cửa khẩu kết nối khu vực và Cảng hàng không Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đang thúc đẩy xúc tiến thương mại, đầu tư và du lịch nhằm mở rộng thị trường cho các sản phẩm địa phương, tăng kết nối doanh nghiệp và phát triển thương mại biên giới…
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê trong thời gian qua được ban hành nhiều cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo điều kiện thu hút các nguồn lực tham gia đầu tư. Quỹ đất đối với nhà ở cho thuê sẽ được bố trí tại các khu vực phường thuộc đô thị loại đặc biệt, loại 1, loại 2.