
Khi thế giới rơi vào khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tình hình diễn biến rất nhanh, rất phức tạp và khó lường, thì dự báo lại càng quan trọng hơn nữa.
Dự báo đúng thì việc xác định mục tiêu mới có cơ sở và giải pháp đề ra mới phù hợp. Dự báo sai thì mục tiêu sẽ sai, giải pháp sẽ không phù hợp, chẳng những không “tiến” mà còn “lùi”, chẳng những không cải thiện được tình hình mà còn làm cho tình hình xấu thêm.
Nhưng để dự báo đúng không dễ, chưa nói đến là rất khó khăn và đúng đắn.
Chẳng thế mà năm ngoái thế giới vào đầu năm thì lạm phát cao, cuối năm thì rơi vào khủng hoảng và suy thoái kinh tế, mặc dù đã được “ủ bệnh” từ cách đó một năm, nhưng có mấy người biết trước!
Và bây giờ, ai có thể dự báo đúng là khủng hoảng trên thế giới lúc nào sẽ kết thúc?
Có một điều khá hài hước là có hai ngân hàng thuộc loại khổng lồ trên thế giới đầu năm ngoái đã dự báo năm 2008 lạm phát Việt Nam sẽ vượt quá 30%, nhập siêu sẽ vượt quá 30 tỷ USD, sẽ phải phá giá đồng tiền của mình tới 20-25% và Việt Nam phải cầu cứu sự cứu trợ về tài chính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) như một số nước trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ cách đây 10 năm!
Nhưng chỉ một thời gian sau đó, một ngân hàng thì tuyên bố phá sản, còn một ngân hàng thì bị thua lỗ nặng nề, trong khi Việt Nam lạm phát, nhập siêu bằng chưa đến hai phần ba mức cảnh báo của họ, không phải phá giá đồng tiền của mình và không phải cầu cứu sự hỗ trợ tài chính của IMF như hai ngân hàng trên cảnh báo!
Ở trong nước, vào tháng 10/2007, đã có mấy ai dự báo Việt Nam năm 2008 lạm phát lại có thể cao gấp rưỡi năm 2007 và tăng trưởng kinh tế lại có thể thấp hơn 7%, nên mãi đến quý 1/2008 mới chuyển đổi mục tiêu từ ưu tiên tăng trưởng kinh tế sang ưu tiên kiềm chế lạm phát...?
Đến tháng 10/2008, có mấy ai đã dự báo tăng trưởng kinh tế cả năm 2008 chỉ đạt 6,23%, mà vẫn đinh ninh là sẽ đạt trên 6,7%? Còn có thể kể ra đây nhiều dự báo chưa đúng để chứng minh sự khó khăn của dự báo.
Ngay với thị trường chứng khoán, hầu như các dự báo của các tổ chức và cá nhân đều bị sai.
Ngay nhiều nhà đầu tư từ “võ say” đến các “đại gia” cũng còn thua lỗ liểng xiểng, bởi có mấy ai dự báo VN-Index năm 2008 lại giảm từ 927 điểm xuống còn 300 điểm, sau khi đã xuyên thủng hết “đáy” này đến “đáy” khác theo dự báo của các chuyên gia, để rồi bây giờ trở về điểm xuất phát cách đây 4-5 năm.
Muốn dự báo đúng, có hai vấn đề đặt ra, đó là phải có thông tin đúng và phải lường định đúng các yếu tố tác động. Ở đây xin nêu những vấn đề ở tầm vĩ mô, bởi vĩ mô mà dự báo sai thì vi mô cũng bị ảnh hưởng theo.
Về vấn đề thứ nhất, bên cạnh những kết quả, tiến bộ về nhiều mặt, nhưng cũng còn có nhiều hạn chế, bất cập, trong đó có bốn mặt chủ yếu sau đây.
Thứ nhất
, thông tin hiện nay vừa thừa, vừa thiếu. Thừa những thông tin vi mô ở tầm vĩ mô, thừa những thông tin vĩ mô ở tầm vi mô. Thiếu một số thông tin liên quan đến chất lượng tăng trưởng kinh tế thực, thiếu nhiều chỉ tiêu về kinh tế tài chính- tiền tệ, khá nhiều chỉ tiêu về xã hội, rất nhiều chỉ tiêu về môi trường.
Thứ hai
, có một số thông tin độ tin cậy chưa cao, như tỷ lệ nợ xấu, lãi, lỗ; ngay tốc độ tăng GDP, quy mô dân số... là những chỉ tiêu quan trọng như thế nhưng cũng có sự chênh lệch lớn giữa số liệu do địa phương tính và các Bộ, ngành tính trên phạm vi cả nước.
Nếu cộng diện tích trồng rừng do các nơi báo cáo thì rừng đã phủ kín diện tích cả nước. Độ tin cậy chưa cao do nhiều nguyên nhân.
Có nguyên nhân do nguồn lực dành cho việc thu thập, tổng hợp thông tin còn hạn hẹp.
Có nguyên nhân từ sự can thiệp của tư tưởng thành tích ở không ít cấp, ngành, đơn vị cơ sở. Có nguyên nhân do sự yếu kém về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp của một số cán bộ làm công tác kế toán, thống kê ở các cơ sở, các cấp, các ngành.
Thứ ba
, nhiều thông tin cung cấp chưa kịp thời (điển hình là tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, tốc độ tăng dư nợ tín dụng năm 2007 báo cáo rất chậm).
Thứ tư
, có thông tin rồi, nhưng việc đánh giá, phân tích còn hạn chế cả về tầm khái quát cũng như mức độ sâu sắc, cả về tính phản biện và tham mưu... Một số lãnh đạo các ngành, cấp hoặc là không sử dụng để có kế hoạch điều hành, hoặc cho rằng vẫn “trong tầm kiểm soát”...
Về vấn đề thứ hai là lường định các yếu tố tác động, bên cạnh những kết quả tích cực, cũng còn có những hạn chế, bất cập dưới những góc độ khác nhau. Ở một số người còn có tư tưởng chủ quan, coi thường sự ảnh hưởng của những yếu tố này nên thường không có biện pháp chủ động đối phó.
Có khi nước đến chân mới nhảy, thường lúng túng ứng phó, ưa dùng biện pháp hành chính, biện pháp tình thế, “vá” chỗ này lại “thủng” chỗ khác, nên thường tốn kém, khắc phục chậm, hiệu quả thấp... ở một số người lại quá thổi phồng sự tác động, thường có phản ứng thái quá, dễ gây tâm lý hoang mang.
Dự báo là một khoa học, vừa phải có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải có thông tin trung thực, khách quan và bản thân việc dự báo cũng phải trung thực, khách quan... Dự báo cũng phải có tính độc lập.
Không chỉ được sử dụng để gia tăng tốc độ và quy mô tấn công, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành mục tiêu mới của tội phạm mạng, với chatbot và các hệ thống AI được doanh nghiệp tích hợp có thể trở thành “cửa ngõ” để hacker tiếp cận hệ thống phía sau. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Ngô Tấn Vũ Khanh, Giám đốc Quốc gia Kaspersky tại Việt Nam, cho rằng cuộc chiến an ninh mạng đang bước sang giai đoạn mới, khi AI vừa là công cụ tấn công, công cụ phòng thủ và đồng thời là mục tiêu bị tấn công.
Những sản vật gắn liền với đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước cơ hội lớn để bước ra thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, để chuyển hóa từ lợi thế bản địa thành thương hiệu quốc tế, các doanh nghiệp và hợp tác xã không chỉ cần sản phẩm ngon, mà phải chuẩn hóa quy trình, thay đổi tư duy sản xuất và tận dụng hiệu quả các chính sách bệ phóng...
Nuôi biển đang nổi lên như một động lực tăng trưởng mới của ngành thủy sản, với sản lượng và giá trị xuất khẩu tăng mạnh. Tuy nhiên, để phát triển quy mô lớn, hiện đại và bền vững, Việt Nam cần tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, tín dụng, công nghệ, con giống và quyền sử dụng mặt biển.
Năm 2026 đánh dấu 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal được thông qua, mở ra một giai đoạn mới trong nỗ lực toàn cầu bảo vệ tầng ozone và ứng phó với biến đổi khí hậu. Với việc đưa các chất HFC- những khí nhà kính có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao - vào lộ trình giảm dần, Bản sửa đổi, bổ sung Kigali đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghệ trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí theo hướng có tác động thấp hơn tới khí hậu...
Việc quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời thúc đẩy làm mát bền vững, cần được đặt trong một bài toán tổng thể với cách tiếp cận mới và các giải pháp đồng bộ. Làm mát bền vững là bài toán liên ngành, liên quan đến nhiều bộ, ngành và địa phương...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Năm 2025, quy mô thị trường du lịch wellness toàn cầu được định giá 990,4 tỷ USD. Năm 2026, dự kiến 1.085,6 tỷ USD. Năm 2035 dự kiến 2.400 tỷ USD. Thị trường châu Á - Thái Bình Dương có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm cao nhất... trong giai đoạn 2026 - 2035.