Nhiều doanh nghiệp vẫn chọn vay ngoại tệ đẩy tăng trưởng tín dụng vượt trội, trong khi vay bằng VND vẫn chậm và ở mức thấp.
Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho biết, trong tháng 5/2010, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ tiếp tục tăng mạnh.
Cụ thể, trong tháng 5 vừa qua, tín dụng bằng ngoại tệ đã tăng 3,16% so với tháng trước. Tính theo dữ liệu mà Ngân hàng Nhà nước công bố trước đó, trong 5 tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ đã lên tới 20,23%.
Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng bằng VND vẫn tiếp tục ở mức thấp, dù đã có cải thiện. Tháng 5, tín dụng bằng VND tăng 1,53% so với tháng trước; tính chung 5 tháng đầu năm chỉ tăng 3,51%.
Tính chung, tăng trưởng tín dụng trong 5 tháng đầu năm ước tăng 7,46%, thay vì dự tính 8% mà lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đưa ra đầu tuần qua.
Như vậy, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ tiếp tục vượt trội so với bằng VND, thay vì thường thấp hơn trong những năm trước đây.
Với riêng tín dụng bằng ngoại tệ, diễn biến trên cũng là khác biệt lớn so với đầu năm 2009. Nếu quý 1/2009, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ âm 2,24%, tháng 4/2009 chỉ tăng 0,65% và tháng 5/2009 chỉ tăng 0,68%; thì năm nay là sự đột biến trong quý 1 (14,07%) và mức tăng 3% trong tháng 4 và 3,16% trong tháng 5 vừa qua.
Nguyên nhân chính của sự khác biệt này có từ chênh lệch lãi suất giữa vay bằng ngoại tệ với vay bằng VND.
Đầu và trong năm 2009, với chính sách hỗ trợ lãi suất và được bù 4%, lãi suất vay vốn bằng VND chỉ ở khoảng 6% - 7%/năm, không có chênh lệch lớn so với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ. Trong khi vay ngoại tệ còn có rủi ro về biến động tỷ giá.
Nay, khi không còn chính sách bù lãi suất 4%, doanh nghiệp phải đối diện với lãi suất thực tế ở mức cao từ đầu năm đến nay, có từ 13% - 16%/năm. Lãi suất cao là một nguyên nhân hạn chế nhu cầu vay vốn, góp phần giải thích tăng trưởng tín dụng bằng VND tăng rất thấp và chậm trong 5 tháng qua.
Mặt khác, khi lãi suất vay VND cao, nhiều doanh nghiệp chuyển sang vay vốn bằng ngoại tệ (chủ yếu bằng USD) với lãi suất chỉ khoảng 6% - 8%/năm. Riêng với các doanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu ngoại tệ, tại một số ngân hàng, lãi suất vay ưu đãi chỉ 5%/năm ở thời điểm này. Vay ngoại tệ đi cùng với rủi ro tỷ giá trong kỳ vay, nhưng chênh lệch lớn về lãi suất khi so với vay bằng VND là động cơ để có những lựa chọn. Mặt khác, từ đầu năm đến nay, tỷ giá USD/VND được duy trì ổn định, thậm chí có những thời điểm giảm đáng kể, càng củng cố thêm cho những lựa chọn đó.
Tuy nhiên, nếu xu hướng trên tiếp tục kéo dài có thể dẫn đến những bất cập trong hoạt động của hệ thống. Dữ liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong khi tín dụng bằng ngoại tệ liên tiếp tăng mạnh và đột biến trong 5 tháng qua, thì tốc độ tăng huy động ngoại tệ lại “lẹt đẹt” từ 0,21% - 0,78%. Riêng tháng 5 vừa qua huy động ngoại tệ có cải thiện nhưng cũng chỉ tăng 1,19%.
Những đối tượng nào được vay vốn bằng ngoại tệ?
Theo Điều 1 Quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 10/4/2008, tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối xem xét quyết định cho khách hàng là người cư trú vay vốn bằng ngoại tệ đối với các nhu cầu vốn sau:
1. Để thanh toán cho nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2. Để trả nợ nước ngoài trước hạn, nếu khoản vay đó đảm bảo các điều kiện: Chấp hành đúng các điều kiện về vay, trả nợ nước ngoài theo quy định của pháp luật về ngoại hối; khách hàng vay có khả năng trả nợ gốc và lãi vốn vay bằng ngoại tệ, tiết kiệm được chi phí vốn vay so với việc vay vốn nước ngoài.
3. Để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
Ngày 15/12/2009, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2009/TT-NHNN bổ sung thêm 2 đối tượng nhu cầu vốn được vay bằng ngoại tệ, gồm:
Thứ nhất, các nhu cầu để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu; trường hợp cho vay bằng ngoại tệ để sử dụng trong nước, thì khách hàng phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín dụng cho vay.
Thứ hai, đối với các nhu cầu vốn ngoài quy định tại Điều 1 Quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN phải được sự chấp nhận trước bằng văn bản của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước thường xuyên đánh giá “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, điều hành các công cụ chính sách chủ động, linh hoạt, đúng thời điểm, đúng liều lượng...
Từ đầu năm 2026 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai 618 cuộc thanh tra, ban hành kết luận đối với 438 cuộc, qua đó phát hiện tổng số tiền vi phạm về kinh tế là 562.468 tỷ đồng...
Ngân hàng Nhà nước cho biết đến cuối tháng 6/2026, dư nợ cấp tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của hệ thống tổ chức tín dụng đạt 5,146 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2025 và chiếm 25,5% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế; nợ xấu tăng 10,5%...
Tạo thêm dư địa tín dụng cho các dự án hạ tầng trọng điểm, có tính lan tỏa là một trong những giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, theo chuyên gia, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô tín dụng được mở rộng, mà quan trọng hơn là tiến độ giải ngân, khả năng cân đối nguồn vốn và kiểm soát dòng tiền sau giải ngân, bảo đảm vốn được sử dụng đúng dự án, đúng mục đích...
Nhu cầu vốn khoảng 1,7 triệu tỷ đồng cho 35 dự án trọng điểm đặt hệ thống ngân hàng trước sức ép lớn khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động và phần lớn nguồn vốn có kỳ hạn ngắn. Vì vậy, vấn đề không chỉ là “có đủ tiền hay không”, mà còn là nguồn vốn nào phù hợp, kỳ hạn bao lâu và rủi ro được phân bổ ra sao...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Từ vùng đất trước đây chỉ sản xuất lúa 1 vụ/năm với hiệu quả kinh tế bấp bênh, khu đồng Sùng, phố Tân Hồ, phường Đông Tiến, tỉnh Thanh Hóa đang hình thành mô hình kinh tế “3 trong 1” từ cây sen: kết hợp trồng sen làm nguyên liệu, chế biến sản phẩm và phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm. Mô hình hiện mang lại doanh thu hàng trăm triệu đồng/năm.