
Tại ngân hàng thương mại cổ phần, 1 cổ đông cá nhân chỉ được sở hữu tối đa 10%, cổ đông là tổ chức được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ.
Đây là quy định bắt đầu có hiệu lực từ ngày 15/9/2009, theo Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của các ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép thành lập và hoạt động, do Chính phủ vừa ban hành.
Đối tượng điều chỉnh của Nghị định là ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương mại liên doanh, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài và tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc tổ chức và hoạt động của ngân hàng.
Theo nghị định trên, đối với ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng có thể có cổ phần ưu đãi (người sở hữu gọi là cổ đông ưu đãi), tổng giá trị mệnh giá của cổ phần ưu đãi cổ tức tối đa bằng 20% vốn điều lệ của ngân hàng. Ngân hàng thương mại cổ phần phải có tối thiểu 100 cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa. Nhưng 1 cổ đông cá nhân chỉ được sở hữu tối đa 10% vốn điều lệ; cổ đông là tổ chức được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ và cổ đông cùng những người có liên quan của cổ đông đó được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ của 1 ngân hàng.
Riêng việc tổ chức quản lý của ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ được thực hiện theo các quy định áp dụng đối với ngân hàng thương mại cổ phần.
Đối với ngân hàng thương mại nhà nước do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ (ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH một thành viên cũng được áp dụng theo quy định này), chủ sở hữu được quyết định mức vốn điều lệ ban đầu và việc thay đổi vốn điều lệ của ngân hàng; quyết định cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng... nhưng chỉ được rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác khi được Ngân hàng Nhà nước đồng ý.
Nghị định cũng quy định quyền của thành viên góp vốn đối với ngân hàng thương mại liên doanh (ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng được áp dụng theo quy định này), theo đó thành viên góp vốn có quyền yêu cầu ngân hàng cung cấp thông tin, báo cáo tài chính hàng năm; được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp... nhưng thành viên góp vốn không được rút vốn đã góp ra khỏi ngân hàng dưới mọi hình thức, trừ trường hợp chuyển nhượng, mua lại vốn góp theo quy định.




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.