
Nhu cầu vay ngoại tệ tăng lên, lãi suất cũng nhanh chóng dâng cao. Ngoài chi phí vay đội lên, doanh nghiệp còn đối diện với rủi ro tỷ giá.
Tháng 10, theo công bố của Ngân hàng Nhà nước, tín dụng bằng ngoại tệ của hệ thống các tổ chức tín dụng ước tăng 2,06% so với cuối tháng 9. Đây là mức tăng mạnh nhất kể từ đầu năm, theo dữ liệu cập nhật thường kỳ của cơ quan này, vượt qua mức tăng 1,91% trong tháng đầu tiên của năm.
Như vậy, sau những tháng đầu năm giảm mạnh, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ tính chung từ đầu năm đã tăng trở lại, bắt đầu tạo những khác biệt lớn.
5 tháng đầu năm 2009, dư nợ cho vay ngoại tệ của hệ thống các tổ chức tín dụng giảm tới 9,55% so với cuối năm 2008; riêng trong các tháng 2 và 3 lần lượt giảm 2,69% và 2,24%. Lãi suất cho vay USD thời điểm đó phổ biến từ 3% - 7% tùy theo từng kỳ hạn.
Nguyên nhân dư nợ giảm được giải thích từ nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp giảm, do hoạt động nhập khẩu chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế. Mặt khác, Chính phủ bắt đầu triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất, lãi suất vay VND sau hỗ trợ chỉ ở khoảng 6%/năm, hấp dẫn hơn so với vay bằng ngoại tệ (chủ yếu bằng USD). Và vay ngoại tệ vẫn luôn tiềm ẩn rủi ro về tỷ giá.
Phòng ngừa rủi ro tỷ giá, nhiều doanh nghiệp đã chủ động tìm mua ngoại tệ để phục vụ cho hoạt động nhập khẩu, đẩy nhu cầu trên thị trường lên cao, cùng với hiện tượng găm giữ tại doanh nghiệp dẫn đến những thời điểm căng thẳng, trong khi vốn ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng ứ đọng.
Trước diễn biến trên, tháng 6, các ngân hàng thương mại cùng “bắt tay” giảm mạnh lãi suất huy động USD để tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay (tối đa 3%/năm, dù thực hiện trên thực tế mỗi ngân hàng mỗi khác) để kích thích nhu cầu vay vốn. Sau điều chỉnh này, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ đã bắt đầu được cải thiện, tháng 7 tăng 1,2% và tính chung 7 tháng đầu năm chỉ còn giảm 2,32%; tháng 8 tiếp tục tăng 1,52% và đặc biệt trong tháng 10 có mức tăng mạnh 2,06%.
Nhu cầu vay ngoại tệ đã tăng mạnh trở lại. Có thể giải thích từ hoạt động nhập khẩu hồi phục dần theo chuyển biến của nền kinh tế, theo chu kỳ thường thấy vào những tháng cuối năm, hay việc mua ngoại tệ vẫn khó khăn và doanh nghiệp buộc phải vay để có nguồn thanh toán… Và thời điểm này, nhu cầu vay tăng lên, doanh nghiệp không còn được hưởng những mức lãi suất thấp trước đó, điển hình như thỏa thuận tối đa 3%/năm mà các ngân hàng lớn đưa ra.
Theo tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 10, lãi suất cho vay USD tại các ngân hàng đã vượt trên 3,5%/năm, với các khoản vay trung và dài hạn đã lên tới 8%/năm, cao hơn nhiều so với vay VND được hỗ trợ lãi suất. Đây là kết quả của đợt tăng lãi suất huy động USD liên tiếp từ đầu tháng 10; hiện nhiều ngân hàng cổ phần đã đẩy lãi suất huy động lên 3,5% kỳ hạn 12 tháng, từ 3,6% - 4% các kỳ hạn từ 13 – 60 tháng.
Ngoài lãi suất vay vốn đã và đang tăng cao, doanh nghiệp vay USD cũng đang đứng trước rủi ro khi tỷ giá USD/VND tiếp tục có xu hướng tăng trong suốt thời gian qua. Sau khi vượt mốc 17.000 VND, tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố hiện đã lên tới 17.018 VND trong ngày 9/11; giá USD mua vào, bán ra của các ngân hàng thương mại cũng luôn duy trì trạng thái ngang nhau và kịch trần biên độ cho phép, ngày 9/11 đã lên mức 17.869 VND.
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Quyết định 1743/QĐ-NHNN, nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại từ 20% lên 50% khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) trong 2 năm...
Khép lại tuần giao dịch 27–31/7, tỷ giá USD trên thị trường tự do giảm về vùng thấp nhất kể từ đầu năm, trong khi tỷ giá ngân hàng giảm 50 đồng/USD ở cả hai chiều mua – bán, trái ngược với xu hướng tăng của tỷ giá trung tâm. Diễn biến này phản ánh áp lực tỷ giá trong nước đang hạ nhiệt, dù rủi ro từ chính sách của Fed và giá dầu vẫn hiện hữu...
Sau hơn một năm thực thi, Luật Các tổ chức tín dụng 2024 đã tạo nền tảng quan trọng cho an toàn hệ thống ngân hàng thông qua cơ chế can thiệp sớm, xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và kiểm soát sở hữu chéo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy trọng tâm cải cách đang chuyển từ xử lý khủng hoảng sang nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro. Thách thức hiện nay không chỉ là hoàn thiện pháp luật mà còn là nâng cao chất lượng thực thi, dữ liệu, giám sát và quản trị để tăng sức chống chịu của hệ thống.
Ngày 27/7, thị trường tự do ghi nhận giá mua USD cao hơn từ 233 - 465 đồng so với các ngân hàng nhưng giá bán lại thấp hơn 55 - 137 đồng. Chênh lệch giá mua - bán trên thị trường tự do khoảng 20 đồng mỗi USD...
Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm, nhưng lãi suất kỳ hạn 1 tháng vẫn neo trên 7%, kéo chênh lệch giữa hai kỳ hạn lên gần 5 điểm phần trăm. Diễn biến này cho thấy thanh khoản ngắn hạn được cải thiện nhờ các biện pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước, song thị trường vẫn thận trọng với triển vọng nguồn vốn trong bối cảnh rủi ro bên ngoài gia tăng…
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.