
“Quản lý chất lượng, công nghệ sau thu hoạch và quy trình nông nghiệp an toàn (GAP) cho sản xuất rau công nghệ cao” là chủ đề được các nhà khoa học Việt Nam và Australia thảo luận sôi nổi tại hội thảo vừa diễn ra ở Đà Lạt.
TS. Nguyễn Quốc Vọng, người gắn bó gần 40 năm trong ngành nông nghiệp ở Nhật Bản và Australia và là chuyên viên Bộ Nông nghiệp bang New South Wales, Australia cho biết rau, hoa, quả là mặt hàng nông sản lớn nhất hàng năm nhập vào các quốc gia trong WTO, với thị trường trị giá gần 103 tỷ USD, gấp 10 lần so với lúa gạo (khoảng 9,2 tỷ USD).
Thế nhưng, cơ cấu lại rất bất hợp lý, lúa chiếm 74% diện tích canh tác; trái cây, rau quả và hoa chỉ chiếm 15% diện tích. Mặt khác, mức độ đầu tư về nhân lực, nghiên cứu, đất đai và lao động của ngành rau quả, hoa, trái cây cũng kém xa so với lúa gạo.
Gia nhập WTO, Việt Nam có một sân chơi khổng lồ cho triển vọng nông nghiệp phát triển. Theo đó phải tuân thủ “luật chơi”. Việt Nam đã và ngày càng tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản (năm 1995, đạt 1,3 tỷ USD, năm 2005 đã đạt 5,7 tỷ USD).
"Kết quả này cho thấy chúng ta đã đặt được những bước đi đầu tiên vào thềm hội nhập nhưng cũng bộc lộ những lỗ hổng lớn trong dây chuyền sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, chất lượng mặt hàng và khâu an toàn vệ sinh, “đặc biệt nhất là “tay nghề” của thành phần sản xuất chủ lực-nông dân, chưa được nâng cao ngang tầm một nước mạnh về xuất khẩu nông sản”, TS. Vọng nhấn mạnh.
Vì vậy, theo ông, nông dân Việt Nam phải đối diện ngay với 4 luật chơi cực kỳ khó khăn, đó là về số lượng, về an toàn thực phẩm, về chất lượng và về giá cả.
Trong 4 luật chơi này, “cái khó nhất cho nông nghiệp Việt Nam hiện nay là quy trình “nông nghiệp an toàn” hay “nông nghiệp tốt” - GAP (Good Agricultural Practices)”, TS. Vọng nhấn mạnh. Đây là một chương trình kiểm tra an toàn thực phẩm xuyên suốt từ A đến Z của dây chuyền sản xuất, bắt đầu từ khâu sửa soạn nông trại, canh tác đến khâu thu hoạch, sau thu hoạch, tồn trữ, kể cả những yếu tố liên quan đến sản xuất như môi trường, các chất hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, bao bì và ngay cả điều kiện làm việc và phúc lợi của người làm việc trong nông trại.
Hiện nay, tuy Việt Nam đã quan tâm đến an toàn thực phẩm nhưng chưa có một quy trình GAP. Đó là một thách thức đối với nền nông nghiệp Việt Nam. Vì vậy, “nếu không xây dựng ngay chương trình Vietnam GAP (tạm gọi tắt là VietGAP) thì làm sao nông sản Việt Nam có thể xuất khẩu, kể cả việc cạnh tranh với hàng ngoại ngay ở thị trường trong nước?”, TS. Vọng khẳng định.
Trong sự cổ súy Việt Nam cần phải phát triển GAP, chuyên gia về an toàn thực phẩm, ông Joseph Ekman cho rằng: trước hết cần dựa trên yếu tố an toàn thực phẩm, đây là yêu cầu số một của công nghiệp thực phẩm quốc tế quan tâm. Theo đó, chương trình Vietnam GAP an toàn thực phẩm cần được mô hình hóa trong ASEAN GAP để đảm bảo tính phù hợp của nó đối với quốc tế hóa khu vực và những chương trình mang tính quốc tế về an toàn thực phẩm.
Ông đề xuất: ưu tiên hàng đầu là Chính phủ phải quan tâm bảo vệ người dân; chương trình GAP cần hỗ trợ có tính chất chìa khoá như tập huấn sử dụng thuốc BVTV, thực hành vệ sinh kết hợp với đánh giá hiệu quả của thuốc trừ sâu và lượng vi khuẩn tồn dư tiềm tàng...
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, diện tích trồng rau trên đất nông nghiệp cả năm 2006 của Việt Nam là 644,0 nghìn ha, tăng 29,5% so với năm 2000. Năng suất trung bình cao nhất từ trước tới nay (149,9 tạ/ha). Tổng sản lượng rau cả nước đạt 9,65 triệu tấn, đạt 144 nghìn tỷ đồng, chiếm 9% GDP của ngành nông nghiệp, trong khi diện tích chỉ chiếm 6%.
Và ở các đô thị lớn, diện tích đất nông nghiệp ngày mỗi thu hẹp (Hà Nội mỗi năm mất khoảng 1.000 ha, Tp.HCM đến năm 2010 giảm 24.420 ha so với năm 2000). Mặt khác, năng suất rau của Việt Nam còn thấp, chỉ bằng 87% so với trung bình của thế giới, tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch khá cao (20-30%), theo PGS.TS Trần Khắc Thi (Viện Nghiên cứu rau quả).
Hai vùng rau có lợi thế về khí hậu và lao động để sản xuất rau xuất khẩu là đồng bằng sông Hồng và tỉnh Lâm Đồng chưa phát huy được tiềm năng. Mấy đề nghị của TS. Thi đưa ra là: mở rộng việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp ven đô; xây dựng các tiêu chí về khu nông nghiệp công nghệ cao; xác định hình thức và quy mô đầu tư; không rập khuôn mà mô hình phải đáp ứng được những đặc thù của địa phương.
Ông Thi cũng cho rằng cần phân biệt khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao với khu vực sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các mô hình nông nghiệp công nghệ cao. Đối với sản xuất cây trồng trong nhà kính, TS. Sophie Parks nêu ra một số nguyên tắc phải đảm bảo như về cấu trúc nhà kính, các phương pháp sản xuất (thông gió, nhiệt độ, độ ẩm, vi lượng, đa lượng...).
Còn khâu quản lý chất lượng sau thu hoạch, theo TS. Suzie Newman, là phải đồng bộ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Ở đây là việc quản lý dây chuyền cung ứng, thời điểm thu hoạch, cách thức thu hoạch và bảo quản. Ông Suzie Newman nêu lên một số nguyên tắc cụ thể của việc quản lý sau thu hoạch để “giảm thiểu sức nóng trên đồng ruộng” là: thu hoạch thời điểm mát mẻ trong ngày; để sản phẩm thu hoạch ở nơi có bóng râm và mang ra khỏi ruộng càng nhanh càng tốt; bảo quản rau nơi thông gió và mát mẻ; sử dụng hệ thống xe lạnh để khắc phục nóng.
Ngoài ra, đó còn là những yêu cầu nghiêm ngặt như nhiệt độ bảo quản thích hợp nhất; xử lý sản phẩm cẩn thận, giảm thiểu mất nước; nơi phân loại đóng gói phải sạch sẽ, gọn gàng để tránh nhiễm bệnh hại sau thu hoạch...
Sự tham gia đông đảo của nhiều đoàn doanh nghiệp, nhà nhập khẩu, hiệp hội ngành hàng và các đơn vị logistics Hoa Kỳ, Brazil cùng các đối tác thương mại ở khu vực châu Mỹ tại VIS 2026 cho thấy sự quan tâm rất lớn đối với hàng hóa Việt Nam. Điều này tiếp tục khẳng định sức hấp dẫn của Việt Nam như một trung tâm cung ứng quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2026 đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, do tốc độ tăng nhập khẩu (33,4%) cao hơn xuất khẩu (21,0%) nên cả nước ghi nhận mức nhập siêu 16,65 tỷ USD, nhưng kết quả này cũng phản ánh nhu cầu đầu vào mở rộng và sản xuất phục hồi mạnh, nhất là khu vực FDI…
Xuất khẩu nông lâm thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng trưởng tích cực với tổng kim ngạch gần 36 tỷ USD. Nhiều ngành hàng như rau quả, thủy sản, sản phẩm chăn nuôi và hạt tiêu duy trì mức tăng khá, trong khi cà phê, cao su và gạo chịu tác động của biến động giá hoặc sự sụt giảm ở một số thị trường chủ lực...
Bức tranh xuất khẩu thuỷ sản trong 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy động lực tăng trưởng đến từ sự bứt phá của thị trường Trung Quốc, trong khi Mỹ có dấu hiệu phục hồi trong tháng 6, còn EU, Nhật Bản và Trung Đông vẫn tăng chậm hoặc giảm nhẹ...
Kết quả đấu thầu 9.365 tấn hạn ngạch dừa năm 2026 tại Đài Loan mở ra vận hội lớn cho hàng Việt Nam. Với 76,5% thị phần nắm giữ, đây là cơ hội để các doanh nghiệp tận dụng lợi thế, vượt rào cản kỹ thuật và giữ vững vị thế chi phối tại thị trường này...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, xung đột vũ trang tại Trung Đông kéo dài tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa, chi phí vận tải và thương mại quốc tế... GDP sáu tháng đầu năm 2026 của nước ta vẫn tăng tới 8,18%. Khu vực 2 là động lực chính cho GDP đạt con số trên.