
Như VnEconomy đưa tin, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vừa có quyết định áp một giới hạn cho vay đối với ba ngân hàng thương mại lớn, cao hơn các thành viên khác trong hệ thống.
Cụ thể, Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) được duy trì tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi tối đa là 90%.
Đây là ba ngân hàng thương mại lớn, đã cổ phần hóa nhưng Nhà nước vẫn nắm tỷ lệ sở hữu chi phối, trên 50%, thậm chí trên 90%.
Trong khi đó, các ngân hàng thương mại cổ phần khác có giới hạn cho vay nói trên thấp hơn, với 80%.
Trước hết, giới hạn trên không mới. Tại Thông tư 36 về các giới hạn an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng ban hành năm 2014, các ngân hàng thương mại nhà nước được áp giới hạn trên là 90%. Tuy nhiên, tháng 5/2016, Ngân hàng Nhà nước có Thông tư 06 sửa đổi một số nội dung, trong đó có xác định lại định nghĩa ngân hàng thương mại nhà nước là trường hợp Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, nên có khác biệt khi ba ngân hàng trên đã cổ phần hóa và tỷ lệ sở hữu Nhà nước không còn nguyên 100%.
Theo đó, có thể hiểu quyết định áp hạn mức nói trên chỉ là sự sắp xếp lại nhóm cũ theo định nghĩa mới mà thôi.
Nhưng đây lại trở thành điểm đáng chú ý, vì có những khác biệt về câu chữ và số liệu, dẫn đến có hiểu nhầm trong một số thông tin phản ánh trong việc tuân thủ giới hạn này.
Nếu tính đơn giản theo tổng dư nợ so với tổng tiền gửi trên báo cáo tài chính của các ngân hàng trên, ngoại trừ Vietcombank dưới 80%, cả VietinBank và BIDV đều đã cao hơn giới hạn 90%, thậm chí gần 100%.
Nếu theo một chỉ mục thống kê cập nhật hàng tháng của Ngân hàng Nhà nước là “Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động”, thì khối ngân hàng thương mại nhà nước cũng đã vượt rào quy định suốt thời gian qua.
Tuy nhiên, có khác biệt lớn khi xác định khái niệm và tỷ lệ này trên thực tế. Và hiểu nhầm trên xuất phát từ quy định trong quá khứ và thay đổi ở thời điểm hiện tại.
Ngày 20/5/2010, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 13, từng gây “xáo động” thị trường tại thời điểm đó, với những quy định mới trong các giới hạn hoạt động của các tổ chức tín dụng. Trong đó, “Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động” đối với các ngân hàng thương mại chung là 80%.
Ngày 20/11/2014, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 36, trong đó có khái niệm “Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi”, cùng các giới hạn 80% và 90% áp dụng cho đến nay.
Cả tên gọi và nội hàm của giới hạn trên tại hai thông tư, tại hai thời điểm trước và nay đã khác. Theo đó, việc dùng tính toán theo nội hàm cũ để đối chiếu với giới hạn và thực tế hiện nay, qua đó cho thấy các ngân hàng vượt rào, đang gây một số nhầm lẫn.
Ví dụ như, nội hàm “tổng tiền gửi” quy định hiện nay đã khác so với “nguồn vốn huy động” trước đây khi xác định giới hạn cho vay (LDR). Như trước đây, các ngân hàng chỉ được tính nguồn tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức, nhưng nội hàm quy định mới đã được tính tiền gửi của tổ chức nói chung (bao gồm cả không kỳ hạn - một nguồn rất lớn). Hoặc theo quy định hiện nay, khi tính tổng dư nợ cho vay, ngân hàng được trừ đi phần dư nợ cho vay bằng nguồn ủy thác của Chính phủ, cá nhân và tổ chức khác…
Khi việc xác định cả tử số và mẫu số thay đổi, LDR cũng thay đổi theo.
Và thực tế, số liệu VnEconomy tìm hiểu trong năm 2016, tất cả các ngân hàng thương mại nhà nước, cả Vietcombank, VietinBank và BIDV đều đảm bảo tuân thủ quy định, nằm dưới giới hạn 90% nói trên.
Trong bối cảnh kinh tế đang dần phục hồi sau những biến động toàn cầu, việc huy động vốn tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai đã đạt hơn 6,1 triệu tỉ đồng sau 6 tháng, tăng 7,1% so với cuối năm 2025…
Trong bối cảnh dòng vốn quốc tế ngày càng tác động mạnh đến thị trường ngoại hối, việc sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước theo hướng tăng quyền chủ động cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thu thập, tổng hợp và khai thác dữ liệu về ngoại hối, cán cân thanh toán và trạng thái đầu tư quốc tế là cần thiết..
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Quyết định 1743/QĐ-NHNN, nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại từ 20% lên 50% khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) trong 2 năm...
Khép lại tuần giao dịch 27–31/7, tỷ giá USD trên thị trường tự do giảm về vùng thấp nhất kể từ đầu năm, trong khi tỷ giá ngân hàng giảm 50 đồng/USD ở cả hai chiều mua – bán, trái ngược với xu hướng tăng của tỷ giá trung tâm. Diễn biến này phản ánh áp lực tỷ giá trong nước đang hạ nhiệt, dù rủi ro từ chính sách của Fed và giá dầu vẫn hiện hữu...
Sau hơn một năm thực thi, Luật Các tổ chức tín dụng 2024 đã tạo nền tảng quan trọng cho an toàn hệ thống ngân hàng thông qua cơ chế can thiệp sớm, xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và kiểm soát sở hữu chéo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy trọng tâm cải cách đang chuyển từ xử lý khủng hoảng sang nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro. Thách thức hiện nay không chỉ là hoàn thiện pháp luật mà còn là nâng cao chất lượng thực thi, dữ liệu, giám sát và quản trị để tăng sức chống chịu của hệ thống.
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong chủ trì ngày 3/8, thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cho thấy các ngành sản xuất duy trì xu hướng tích cực.