
Lượng vốn ngoại đổ vào chứng khoán là một cơ sở quan trọng để đánh giá thị trường. Nhưng đâu là con số thực?
Câu hỏi trên một lần nữa được đặt ra và không chỉ có hai đáp án 4 tỷ USD và 1 tỷ USD.
“Nhiễu số”
Giữa tuần này, Ngân hàng Nhà nước tổ chức một hội thảo liên quan đến thị trường chứng khoán; trong đó, lượng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thời gian qua được nhiều diễn giả đề cập tới.
Trong tham luận của mình, ông Phạm Huy Hùng, Tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam (Incombank), đưa ra con số 1 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2006.
Ngay tham luận sau đó, ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), lại đưa ra con số đáng chú ý: “Đến tháng 2/2007, ước tính vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam khoảng 4 tỷ USD và có thể tăng thêm 1,5 tỷ USD trong vòng 6 tháng tới”.
Trong tài liệu cung cấp tại hội thảo, con số mà một chuyên gia của Vụ Tài chính Tiền tệ, Bộ Kế hoạch Đầu tư, ước tính trong 3-4 tháng qua của riêng các nhà đầu tư nước ngoài nhỏ lẻ đầu tư qua các ngân hàng đầu tư là khoảng 1 tỷ USD.
Theo con số của ông Phí Đăng Minh, Phó vụ trưởng Vụ quản lý ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước, dẫn thống kê của Ủy ban Chứng khoán, lượng vốn giao dịch trên thị trường chứng khoán của các nhà đầu tư nước ngoài (chưa kể thị trường OTC) ước khoảng 3,5 - 4,2 tỷ USD.
Và những con số khá chi tiết của bà Nguyễn Thị Kim Thanh, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) nói đến là: Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Ủy ban Chứng khoán, báo cáo của các doanh nghiệp và ước tính của Ngân hàng Nhà nước, nguồn vốn đầu tư gián tiếp của nhà đầu tư nước ngoài được phản ánh trên cán cân thanh toán có xu hướng ngày càng gia tăng: đến quý I/2006 khoảng 189 triệu USD, quý II khoảng 283 triệu USD, quý III khoảng 202 triệu USD và quý IV khoảng 626 triệu USD. Và con số cả năm được đề cập là khoảng 1,3 tỷ USD.
Trước những con số này, ông Nguyễn Đại Lai, Phó vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước), cho rằng không thể xác định cảm tính, chung chung, mà phải là một sự chính xác tương đối và phải giải thích rõ đó là số vốn gốc hay là số vốn sinh sôi sau đầu tư.
Và đâu là con số cuối cùng? Có lẽ Ủy ban Chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước cần ngồi lại với nhau để thống nhất, tránh “nhiễu số” trong thông tin đến thị trường.
Biết để định hướng
Về ý nghĩa của con số này, chỉ riêng sự xuất hiện với mật độ dày trong tài liệu phục vụ hội thảo cũng cho thấy một phần quan trọng của nó đối với nhà quản lý.
Theo ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, đây là một tham số quan trọng liên quan đến công tác quản lý, định hướng điều chỉnh chính sách liên quan. Quan điểm của Ngân hàng Nhà nước là sẽ theo dõi sát, chặt chẽ con số này để có sự quản lý phù hợp.
Còn theo một số diễn giả khác, đó là một minh chứng cụ thể cho sự hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam trong mắt nhà đầu tư nước ngoài. Và cũng có thể là một thước đo rủi ro nếu lượng vốn đó bị rút ra khỏi thị trường.
Con số 1 tỷ USD hay 4 tỷ USD, thậm chí có thể lên tới 5,5 tỷ USD đều mang lại những ý nghĩa và mức độ ảnh hưởng khác nhau. Và dù ít hay nhiều, dòng vốn đó đang đặt ra nhiều vấn đề đối với cơ quan quản lý.
Ông Bảo lo ngại rằng thị trường chứng khoán mở của, vốn ngoại vào nhiều khiến thị trường dễ bị nhà đầu tư nước ngoài thao túng, gây rủi ro cho hệ thống tài chính. Vốn ngoại càng nhiều, sức ép lên đồng nội tệ càng lớn; và khi đồng nội tệ lên giá, tính cạnh tranh của nền kinh tế càng kém đi…
Ngoài ra, cũng như những lo ngại mà một số chuyên gia đã cảnh báo, lượng vốn ngoại vào nhiều sẽ tạo một thách thức lớn đối với công tác quản lý ngoại hối. “Nếu nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt bán tháo cổ phiếu để rút vốn, ngoài tác động đến thị trường chứng khoán, lượng vốn rút ra sẽ lớn hơn nhiều so với lượng vốn đổ vào, gây áp lực lớn lên dự trữ ngoại hối”, ông Bảo nói. Đó là chưa tính đến nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu, trả nợ nước ngoài…
Trước những vấn đề đó, nắm được con số cụ thể, cập nhật, tính toán chính xác là yêu cầu để định hướng những áp lực và định hướng khả năng phòng ngừa. Nhưng nếu “nhiễu số”, khả năng định hướng đó sẽ đến đâu?
PYN Elite cho rằng thị trường đã vận động theo cách khó lý giải khi nhiều cổ phiếu của các doanh nghiệp lớn, có thanh khoản cao và công bố kết quả kinh doanh xuất sắc lại phần lớn giảm giá.
Tỷ trọng của Bất động sản trong danh mục các quỹ có xu hướng tăng rõ rệt. Tỷ trọng ngành này tăng từ 13% năm 2023 lên 14% năm 2024 và đạt 20% vào năm 2025.
Việt Nam vừa được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường Mới nổi Thứ cấp kéo theo yêu cầu cao hơn về minh bạch và công bố thông tin. Trong khi đó, hoạt động quan hệ nhà đầu tư (IR) cũng được yêu cầu nâng cao chất lượng thông tin, hướng tới làm rõ giá trị dài hạn của doanh nghiệp, tích hợp các yếu tố ESG và tăng cường đối thoại...
Hiện quy mô khối quỹ mở nội địa vẫn còn nhỏ bé so với hơn 13 triệu tài khoản chứng khoán cá nhân đang giao dịch. Trước sự lệch pha này và mục tiêu đưa quy mô ngành quỹ đạt 5% GDP vào năm 2030, ngành quỹ cần một lộ trình bứt phá từ chiến lược thu hút 1,8 triệu nhà đầu tư mới, hạ tầng công nghệ số hóa đến việc thay đổi tư duy sang quản lý gia sản dài hạn...
Dòng vốn vào ròng tuần qua tập trung chủ yếu ở quỹ Kim Kindex VN30 khi quỹ này có tuần thứ hai hút ròng mạnh, với hơn 73 triệu USD, phản ánh dòng vốn tích cực từ quỹ ETF niêm yết tại thị trường Hàn Quốc.
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển, Việt Nam có lợi thế về sản xuất, logistics và mạng lưới các hiệp định thương mại FTA dày đặc. Tuy nhiên, để biến sự quan tâm của khách hàng quốc tế thành hợp đồng thực tế, thành “đơn hàng… là bài toán không hề đơn giản.