
Đánh giá về tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam 5 tháng đầu năm 2009, ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên xuất khẩu dệt may 5 tháng đầu năm tăng trưởng âm (-1,8%).
Dự kiến nếu không có sự đột phá thì năm 2009 sẽ không đạt được kim ngạch xuất khẩu như năm 2008 (9,13 tỷ USD).
Theo số liệu của Bộ Công Thương, nhập khẩu nguyên phụ liệu 5 tháng đầu năm tất cả đều âm so với cùng kỳ năm trước, âm ít nhất là 10% và âm nhiều nhất là 20%. Từ đó, có thể dự báo những tháng tới kim ngạch xuất khẩu sẽ còn tiếp tục âm.
Trong 15 ngày đầu tháng 5/2009, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam dự kiến đạt 317 triệu USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu từ đầu năm đến 15/5/2009 đạt 2,894 tỷ USD, giảm 1% so với cùng kỳ và nếu tính dự đoán con số xuất khẩu cả tháng 5 là 650 triệu USD thì kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đã giảm gần 2% so với cùng kỳ.
Sự sụt giảm này là do nhu cầu của các thị trường tiêu thụ lớn sản phẩm dệt may của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU giảm mạnh, bán lẻ dệt may tại các thị trường này giảm tới trên 20%.
Trong nước, nhiều doanh nghiệp trong ngành, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa và một số doanh nghiệp FDI gặp khó khăn, thiếu đơn hàng sản xuất trong quý 1/2009 (đơn hàng giảm tới 20 - 25%), giá giảm từ 10 - 15%, nên buộc phải sa thải người lao động.
Hiệp hội Dệt may cho biết, tín hiệu đáng mừng là hiện nay, các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp lớn đã có đơn hàng trở lại tới hết quý 3/2009. Theo phản ánh của các doanh nghiệp, đơn hàng sản xuất trong tháng 6-7/2009 đã ký kết được khá nhiều. Một số doanh nghiệp lớn đã phải chuyển bớt một phần đơn hàng đi gia công tại nhiều doanh nghiệp, nhiều địa phương mới kịp giao hàng.
Thêm vào đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có ít đơn hàng hơn, biến động nhiều hơn nên nhiều đơn vị chủ yếu làm vệ tinh sản xuất cho các doanh nghiệp lớn để duy trì việc làm. Mặc dù nhìn chung mức giá thấp hơn trước nhưng các doanh nghiệp vẫn phải chấp nhận đơn hàng để duy trì sản xuất và giữ người lao động.
Theo đó, các đơn hàng loại giá cao và trung bình giảm nhiều, đơn hàng giá thấp giảm ít hơn. Nhưng đến thời điểm hiện nay, giá cả đã được cải thiện hơn do áp lực giá đầu vào tăng. Cộng với diễn biến lượng khách giao dịch nhiều nhưng đơn hàng vẫn biến động, điều này phản ánh xu thế các khách hàng tăng cường giao dịch để tìm nơi sản xuất có giá cả hấp dẫn hơn.
Thế nhưng, nguồn nhân lực sản xuất dệt may lại là một bức tranh trái chiều. Khi mà một số doanh nghiệp phải đóng cửa, giảm bớt sản xuất và sa thải người lao động thì tại một số doanh nghiệp, khu vực, lượng đơn hàng nhiều buộc đơn vị phải tìm thêm lao động hoặc chuyển đơn hàng đi gia công tại các doanh nghiệp khác.
Dự kiến, với tình hình đơn hàng và sản xuất hiện nay, xuất khẩu trong những tháng tới sẽ có sự cải thiện do đã vào vụ sản xuất chính. Sau đó sẽ giảm dần từ tháng 9 đến tháng 10/2009 trở đi nếu kinh tế thế giới chưa hồi phục.
Trong thời gian qua, Chính phủ cũng đã triển khai áp dụng nhiều cơ chế chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ cho doanh nghiệp duy trì sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh, hỗ trợ cho người lao động giải quyết đỡ khó khăn khi mất việc làm, hỗ trợ đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại...
Tác động có hiệu quả nhất đến các doanh nghiệp là chính sách hỗ trợ lãi suất 4% khi vay vốn lưu động và gần đây là vốn đầu tư ngắn hạn, giúp các doanh nghiệp tiếp cận được với nguồn vốn cần thiết cho sản xuất kinh doanh với mức lãi suất khá thấp.
Tuy nhiên chỉ có Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam cho doanh nghiệp ân hạn trả nợ 1 - 2 năm, còn các ngân hàng khác thì doanh nghiệp lại khó tiếp cận.
Giá trị lớn nhất của VIFTA không dừng lại ở việc mở rộng thị trường hay ưu đãi thuế quan, mà là cơ hội hình thành cầu nối chiến lược về công nghệ, đầu tư và đổi mới sáng tạo, từ đó tạo nền tảng nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu...
Doanh nghiệp Malaysia đang tìm kiếm đối tác Việt Nam trong nhiều lĩnh vực dược phẩm và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe; sản phẩm tiêu dùng, chăm sóc cá nhân, hàng tiện lợi, gia dụng, thực phẩm và hàng hóa công nghiệp…
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), cho rằng rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là đáp ứng tiêu chuẩn của khối FDI, mà còn nằm ở mạng lưới cung ứng sẵn có của các tập đoàn này. Do đó cần có sự cởi mở hơn từ doanh nghiệp FDI và thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ nhà cung ứng trong nước, qua đó thúc đẩy kết nối và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
Làn sóng điều tra phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp trên toàn cầu đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Canada, Ấn Độ, Mexico và Australia đang đứng trước nguy cơ cao bị đưa vào diện điều tra, theo dõi hoặc áp thuế...
Phát triển thị trường đa kênh giúp tối ưu chi phí và gia tăng điểm chạm với khách hàng, song nhiều doanh nghiệp vẫn đang vấp phải không ít rào cản, từ việc xây dựng hệ sinh thái công nghệ đồng bộ, quản trị dữ liệu khách hàng, cho đến tối ưu hóa quy trình logistics và thiết lập một chiến lược kinh doanh bài bản...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Máy bay không người lái (drone) được mở rộng ứng dụng trong phun thuốc bảo vệ thực vật, gieo sạ và bón phân, góp phần cơ giới hóa sản xuất, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả canh tác, hướng tới phát triển nông nghiệp hiện đại.