Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định CPTPP

Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định phê chuẩn Hiệp định CPTPP cùng các văn kiện liên quan trong kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá 14

Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trình bày tờ trình phê chuẩn CPTPP - Ảnh Quang Phúc.
Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trình bày tờ trình phê chuẩn CPTPP - Ảnh Quang Phúc.

Sáng 2/11, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng các văn kiện liên quan.

Tờ trình nêu rõ, được sự đồng ý của Bộ Chính trị và ủy quyền của Chính phủ, ngày 8/3/2018 Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ký Hiệp định CPTPP và các văn kiện liên quan cùng với Bộ trưởng phụ trách kinh tế của các nước Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore. 

Sau khi ký Hiệp định, các nước sẽ tiến hành thủ tục pháp lý trong nước, bao gồm việc phê chuẩn Hiệp định theo quy định của pháp luật nước mình để Hiệp định có hiệu lực.

Giới thiệu chung về CPTPP và các văn kiện liên quan, Chủ tịch nước cho biết, Hiệp định gồm 7 điều và 1 Phụ lục quy định về mối quan hệ với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được 12 nước ký ngày 6/2/2016 tại New Zealand, cũng như xử lý các vấn đề khác liên quan đến tính hiệu lực, rút khỏi hay gia nhập Hiệp định CPTPP.

Về cơ bản giữ nguyên nội dung của TPP

Theo đó, về cơ bản Hiệp định CPTPP giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP nhưng cho phép các nước thành viên tạm hoãn 20 nhóm nghĩa vụ, gồm 11 nghĩa vụ liên quan đến chương Sở hữu trí tuệ, 2 nghĩa vụ liên quan đến chương Mua sắm của Chính phủ và 7 nghĩa vụ liên quan đến 7 chương là Quản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng để bảo đảm cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các nước thành viên trong bối cảnh Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP.

Về Hiệp định TPP, Hiệp định này gồm 30 chương và 9 phụ lục điều chỉnh rất nhiều vấn đề từ: thương mại như mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn phổ biến trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA); đến các vấn đề ít truyền thống hơn như mua sắm của các cơ quan Chính phủ, thương mại điện tử, doanh nghiệp nhà nước và mở rộng ra cả các vấn đề được coi là phi truyền thống trong đàm phán, ký kết các FTA như lao động, môi trường, chống tham nhũng trong thương mại và đầu tư.

Mặc dù các nước thành viên CPTPP đã quyết định tạm hoãn áp dụng một số nhóm nghĩa vụ được coi là có mức độ cam kết cao nhưng về tổng thể, Hiệp định CPTTP vẫn được đánh giá là một FTA chất lượng cao và toàn diện với mức độ cam kết sâu nhất từ trước đến nay, tờ trình nêu rõ.

Ngoài ra, các nước thành viên CPTPP cũng ký với nhau một số cam kết, thỏa thuận song phương dưới hình thức các thư, thư trao đổi và bản ghi nhớ. 

Đối với Việt Nam, bên cạnh một số thư, thư trao đổi và bản ghi nhớ có nội dung tương tự các văn bản đã ký trong khuôn khổ Hiệp định TPP vào năm 2016, Việt Nam có một số thư, thư trao đổi và bản ghi nhớ liên quan đến các nội dung thuộc quan tâm riêng của mình theo hướng được phép có những linh hoạt hoặc một khoảng thời gian chuyển đổi nhất định để thực thi một số cam kết của Hiệp định (Việt Nam đã nhận 2 thư về vấn đề kinh tế thị trường từ Canada và Mexico, ký 64 thư trao đổi song phương và 2 bản ghi nhớ với các nước.

Không ít thách thức

Tác động của Hiệp định CPTPP và các văn kiện liên quan đối với Việt Nam cũng là thông tin được nêu tại tờ trình.

Chủ tịch nước cho biết, việc tham gia và sớm phê chuẩn Hiệp định CPTTPP giúp Việt Nam thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với đổi mới và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; khẳng định vai trò và vị thế địa - chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á cũng như Châu Á - Thái Bình Dương, thực sự nâng cao vị thế của Việt Nam trong khối ASEAN, trong khu vực cũng như trên trường quốc tế. 

Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình chính trị - an ninh thế giới và khu vực đang thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp, khó lường, tham gia CPTTPP vừa giúp Việt Nam có điều kiện nâng cao nội lực để ứng phó, vừa giúp củng cố vị thế để thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa đi đôi với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh. Hiệp định CPTPP khi đi vào triển khai sẽ góp phần tăng cường sự đan xen lợi ích, làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa ta với các nước thành viên CPTPP, đặc biệt là các nước thành viên có quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

Bên cạnh những thuận lợi, tờ trình cũng nêu rõ, tham gia CPTPP cũng đặt ra những thách thức về kinh tế - xã hội, thu ngân sách, hoàn thiện khung khổ pháp luật, thể chế... Việc mở cửa các hoạt động kinh tế, đi kèm với các quy định về lao động, minh bạch hóa, chống tham nhũng.... đòi hỏi Việt Nam cần chủ động, nỗ lực đổi mới, tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật, thiết lập các cơ chế quản lý để vừa phù hợp với điều ước quốc tế nhưng cũng bảo đảm vững chắc sự ôn định về chính trị - xã hội của Việt Nam, Chủ tịch nước trình bày.

Không kiến nghị bảo lưu nội dung nào

Tờ trình cũng nêu kiến nghị về việc phê chuẩn, thời điểm phê chuẩn, nội dung bảo lưu, chấp nhận hoặc phản đối bảo lưu của bên ký kết nước ngoài.

Theo đó, Hiệp định CPTPP sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày mà ít nhất 6 nước ký kết hoặc ít nhất 50% số nước ký kết của Hiệp định thông báo bằng văn bản với Cơ quan lưu chiểu về việc đã hoàn thành các thủ tục pháp lý cần thiết của nước đó. Các thỏa thuận song phương cũng sẽ có hiệu lực cùng thời điểm với Hiệp định CPTPP.

Đối với các nước đã ký Hiệp định nhưng chưa phê chuẩn vào thời điểm Hiệp định có hiệu lực với 6 nước đầu tiên đã hoàn tất việc phê chuẩn thì Hiệp định sẽ có hiệu lực với nước đó sau 60 ngày kể từ ngày thông báo bằng văn bản về việc đã hoàn thành các thủ tục nội bộ.

Đối với Việt Nam, Chính phủ đề xuất Hiệp định CPTPP và các văn kiện kèm theo được phê chuẩn tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa 14.

Chính phủ không có kiến nghị bảo lưu bất kỳ nội dung nào của Hiệp định.

Đối với những cam kết đã đủ rõ, đủ chi tiết và có thể áp dụng trực tiếp theo quy định của Luật Điều ước quốc tế, Chính phủ kiến nghị áp dụng trực tiếp (có danh mục kèm theo hồ sơ trình).

Để bảo đảm thực hiện Hiệp định, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành hữu quan rà soát, hoàn thiện danh mục các luật, pháp lệnh, nghị định cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới để phù hợp với các cam kết trong CPTPP. Kết quả rà soát đã kiến nghị sửa đổi, bổ sung 12 văn bản, gồm: 8 luật, 4 nghị định của Chính phủ. Kiến nghị ban hành mới 7 văn bản, gồm: 6 nghị định của Chính phủ, 1 quyết định của Thủ tướng Chính phủ; kiến nghị gia nhập 3 điều ước quốc tế. Trong quá trình thực hiện Hiệp định, Chính phủ sẽ tiếp tục rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, nếu phát sinh văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung sẽ có kiến nghị để sửa đổi, bổ sung kịp thời.

Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định phê chuẩn Hiệp định CPTPP cùng các văn kiện liên quan trong kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá 14.

Đề nghị Chính phủ báo cáo, thuyết minh trước Quốc hội về nội dung cụ thể và những vấn đề liên quan đến việc phê chuẩn Hiệp định nêu trên.

Thuyết minh này sau đó đã được Phó thủ tướng Phạm Bình Minh báo cáo.

Quốc hội cũng đã nghe Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu trình bày Báo cáo thẩm tra và sau đó tiến hành thảo luận về nội dung Chủ tịch nước đã trình.

Chuyến thăm Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Từ củng cố quan hệ đến chủ động kiến tạo không gian phát triển

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 9 đến 14/8/2026 không chỉ ghi nhận hàng loạt thỏa thuận hợp tác mà còn phản ánh tư duy chủ động mở rộng không gian phát triển chiến lược cho Việt Nam. Trong bối cảnh quốc tế biến động hiện nay, chuyến thăm trở thành một lát cắt quan trọng để nhìn nhận cách Việt Nam triển khai đối ngoại phục vụ phát triển trong giai đoạn mới.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Đưa năng suất thực chất vào hệ thống chỉ tiêu điều hành

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số và từng bước trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, việc nâng cao năng suất không còn là câu chuyện riêng của ngành khoa học và công nghệ, mà là một trong những nhiệm vụ trung tâm của cả hệ thống trong giai đoạn 2026–2030...

Tình hữu nghị của lòng tin cậy, tôn trọng và tiến bộ

Nhân dịp Quốc khánh lần thứ 80 của Ấn Độ (15/8/1947 - 15/8/2026), Tạp chí VnEconomy trân trọng và hân hạnh đăng bài viết của Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Ấn Độ tại Việt Nam Tshering W. Sherpa, chia sẻ những dấu mốc trên hành trình phát triển của Ấn Độ và những triển vọng mới trong quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam - Ấn Độ.

VnEconomy Khám chữa bệnh quốc tế: Mảnh ghép còn thiếu trong chiến lược tăng trưởng hai con số

Trong nhiều năm, khi nói đến tăng trưởng kinh tế, Việt Nam thường đặt trọng tâm vào ba động lực truyền thống: xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, dư địa tăng trưởng của các động lực cũ đang dần thu hẹp, buộc Việt Nam phải tìm kiếm những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao hơn, ít phụ thuộc vào tài nguyên và có khả năng tạo ra nguồn thu ngoại tệ bền vững.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy