Sau vài năm chờ đợi, qua nhiều lần dự thảo, cuối cùng Ngân hàng Nhà nước cũng đã ban hành văn bản tăng cường việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tại các tổ chức tín dụng.
Đó là Thông tư số 02/2013/TT-NHNN, ban hành ngày 21/1/2013, quy định tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; bổ sung cho Quyết định 493, Thông tư 18, Thông tư 15 đang áp dụng.
Tinh thần chung của thông tư là tăng thêm yêu cầu đối với các tổ chức tín dụng trong phòng ngừa rủi ro kinh doanh vốn, tạo thêm nguồn để xử lý nợ xấu; theo đó, chi phí hoạt động sẽ đội lên và lợi nhuận bớt đi nhất định hoặc sẽ “chuyển” sang lãi suất.
Điểm quan trọng nhất của Thông tư số 02 là việc bổ sung phạm vi điều chỉnh so với Quyết định 493, Thông tư 18, Thông tư 15. Theo đó, tài sản có rủi ro không chỉ là các khoản cho vay đơn thuần như hiện nay, mà được xét đến bản chất tín dụng ở nhiều khoản khác để buộc phải trích lập dự phòng rủi ro.
Cụ thể, như đã được đề cập thời gian qua, các khoản mua và ủy thác mua trái phiếu chưa niêm yết đã chính thức được đưa vào diện phải trích lập dự phòng; cùng đó là các khoản ủy thác cấp tín dụng; tiền gửi trên liên ngân hàng (trừ tiền gửi thanh toán); và cả khoản cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng.
Có một chi tiết nhỏ bên lề, thông tư trên được Ngân hàng Nhà nước công bố vào cuối ngày 22/1/2013, bản nội dung cụ thể tạm thời có lỗi cập nhật trên cổng thông tin cơ quan này, nên hiện chưa rõ các quy định chi tiết, các mức trích và phương pháp trích lập dự phòng rủi ro liên quan.
Tuy nhiên, có thể định hình hàng chục nghìn tỷ đồng, thậm chí có thể đến cả trăm nghìn tỷ đồng vốn của các ngân hàng sẽ rơi vào diện phải trích lập dự phòng. Quy mô này chủ yếu ở hai kênh chính là tiền gửi liên ngân hàng và các khoản đầu tư, ủy thác đầu tư trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết. Giả sử theo quy định hiện hành, các tổ chức tín dụng phải trích lập dự phòng chung 0,75%, sẽ là một nguồn đáng kể.
Trước hết, như mục đích của quy định mới này, nguồn trên là sự bổ sung lượng tiền để chính các tổ chức tín dụng xử lý nợ xấu. Theo đó, có thể xem Thông tư 02 là một hành động cụ thể của Ngân hàng Nhà nước, quyết liệt hơn với vấn đề nợ xấu - một trong những khó khăn lớn nhất không chỉ của hệ thống mà còn của nền kinh tế hiện nay.
Một điểm cần xem xét thêm là, các khoản cho vay đơn thuần thường có tỷ lệ tài sản đảm bảo khá lớn, còn các khoản mục trên thường có tỷ lệ tài sản đảm bảo thấp hơn (như trái phiếu doanh nghiệp, tiền gửi liên ngân hàng thường không có tài sản đảm bảo - ngoại trừ phát sinh cơ chế phải có thế chấp trong giao dịch vay mượn giữa các ngân hàng từ cuối năm 2011).
Thực hiện Thông tư 02, như đề cập ở trên, nợ xấu có thêm nguồn để xử lý. Ngược lại, các nhà băng sẽ phát sinh thêm chi phí. Có hai phản ứng đặt ra: một là, lợi nhuận của họ phải chia sẻ nhất định; hai là, lãi suất cho vay sẽ nhích lên để bù đắp, mà trong xu hướng hiện nay thì nghiêng về khả năng lãi suất sẽ càng khó giảm hơn. Tuy nhiên, tác động đến chi phí, lợi nhuận và lãi suất dự tính sẽ không quá lớn.
Ngoài ra, Thông tư 02 còn bổ sung thêm quy định phân loại đối với những tài sản có vi phạm vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn; yêu cầu những nội dung có tính nguyên tắc phải có trong các quy định nội bộ; các tổ chức tín dụng phải xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để xếp hạng khách hàng theo định kỳ hoặc khi cần…
Thông tư bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/6/2013. Cùng với đó, một văn bản quan trọng khác cũng đang được chờ đợi ban hành là việc sửa đổi, bổ sung các tỷ lệ an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng theo hướng nâng cao hơn các quy định hiện hành.
Trong 4 phiên (2-5/11), tổng mức tăng giá mua bán đối với vàng miếng SJC phổ biến là 5,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, với vàng nhẫn 4 số 9, mức tăng lớn hơn, dao động từ 5 triệu – 7,5 triệu đồng/lượng...
Sau hơn nửa tháng Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động và cho vay, mặt bằng lãi suất đã bắt đầu điều chỉnh. Tuy nhiên, mức giảm của lãi suất cho vay thực tế mới đạt 0,2–0,5%, thấp hơn mức giảm 1,5–2% đối với các khoản vay phục vụ sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên…
Sau nhiều năm đẩy mạnh số hóa quy trình, nghiệp vụ, các ngân hàng đang mở rộng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), hướng tới mô hình AI có thể tự thực hiện một số nhiệm vụ dưới sự giám sát của con người. Tuy nhiên, quá trình này đối mặt với 4 thách thức lớn: dữ liệu phân mảnh, quy trình rời rạc, năng lực kiểm soát hành động của AI và bảo đảm chủ quyền dữ liệu...
Dù chọn kênh giao dịch nào, doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng hoạt động và được quản lý bởi cùng một nguyên tắc và một lớp dữ liệu giám sát toàn diện, đưa thị trường phái sinh hàng hóa trở thành bệ đỡ vững chắc cho nền kinh tế hội nhập.
Nhiều doanh nghiệp cho biết đã được giảm lãi suất cho vay từ 0,5 đến 1,5 điểm phần trăm, giúp tiết kiệm hàng trăm triệu đồng mỗi tháng. Đến nay, có 2 ngân hàng xác nhận giảm lãi suất cho cả khoản vay mới và dư nợ hiện hữu là Agribank và MB. Tuy nhiên, dư địa giảm lãi suất của các ngân hàng chênh lệch đáng kể do sự khác biệt về chi phí vốn và biên lãi thuần (NIM)…
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
158,76 tỷ đồng là khoản tiền được UBND thành phố Hà Nội bố trí hỗ trợ người dân lắp hệ thống điện mặt trời mái nhà. UBND cấp xã là cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết hồ sơ và quyết định phê duyệt kinh phí hỗ trợ.