
“Có những thứ tưởng nhỏ nhưng doanh nghiệp kêu mãi mà chúng ta không xử lý được thì doanh nghiệp nản không muốn kêu, rồi không quan tâm tham gia góp ý, phản biện đối với việc hoạch định, xây dựng chính sách”.
Phát biểu trên được Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đưa ra tại buổi làm việc với Cục Hải quan Tp.HCM ngày 18/8, nhân chuyến thị sát thị sát hoạt động kiểm tra chuyên ngành với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Mở đầu buổi làm việc, Phó thủ tướng nhấn mạnh, đến hết năm 2016, phải giảm tỷ lệ các lô hàng nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành tại giai đoạn thông quan từ 30 – 35% như hiện nay xuống còn 15%.
Tuy nhiên, báo cáo với Phó thủ tướng, Cục Hải quan TpHCM cho biết, cả năm 2015 đơn vị chỉ phát hiện 76 vụ vi phạm, chiếm 0,019% trên tổng số tờ khai kiểm tra chuyên ngành; quý 1/2016 có 11 vụ vi phạm, chiếm 0,0089% trên tổng số tờ khai kiểm tra chuyên ngành. Trong khi số tờ khai phải kiểm tra chuyên ngành quá nhiều, riêng trong 3 tháng đầu năm 2016, tổng số tờ khai nhập khẩu là 309.185 tờ khai, số tờ khai phải kiểm tra chuyên ngành là 123.283 (bằng 39,87%).
Thực tế trên cho thấy quy định về kiểm tra chuyên ngành hiện nay không hiệu quả và hiệu lực.
Do đó, theo Phó thủ tướng, chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trả cho các cơ quan kiểm tra chuyên ngành là rất lớn và trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp, nhưng lớn hơn rất nhiều lần là chi phí cơ hội mà doanh nghiệp phải chịu vì thời gian thông quan bị kéo dài, doanh nghiệp sẽ không thể đưa hàng hóa vào sản xuất, kinh doanh kịp thời.
Phó thủ tướng đề nghị các bộ ngành phải đưa ra cam kết, thời hạn cụ thể trong việc giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp, trong đó có những ý kiến được nêu ra trong cuộc làm việc như công nhận chữ ký đại lý hải quan khi làm thủ tục kiểm tra chuyên ngành; đề xuất phương án xử lý việc kiểm tra chuyên ngành đối với mặt hàng môtơ tiết kiệm năng lượng; rà soát, sửa đổi những thông tư liên quan đến kiểm tra chuyên ngành theo nhiệm vụ đã được giao trong Nghị quyết 19…
“Chúng ta phải làm theo xu hướng quốc tế là quản lý rủi ro; áp dụng việc công nhận sản phẩm lẫn nhau không chỉ ở các nước ký tương đương mà cả những sản phẩm thương hiệu toàn cầu nổi tiếng”, Phó thủ tướng nói.
Phó Thủ tướng đặt yêu cầu cụ thể trong thời gian tới số lượng các mặt hàng bắt buộc kiểm tra chuyên ngành phải ít nhất, thời gian kiểm tra nhanh nhất, tần suất giảm ít nhất 15% vào quý 4/2016.
“Kiểm tra phải nhanh nhất có thể, chúng ta tính theo ngày nhưng Ngân hàng Thế giới đã tính theo giờ. Doanh nghiệp trông đợi vào Chính phủ, bộ ngành những thứ rất cụ thể, còn phân công, phối hợp thế nào là công việc của các bộ, ngành”, Phó thủ tướng lưu ý và cho rằng công việc phần nhiều nằm ở các bộ quản lý chuyên ngành.
Trong các cuộc tiếp lãnh đạo doanh nghiệp, quỹ đầu tư và nhà khoa học Nga tại Moskva ngày 9/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị thúc đẩy các dự án cụ thể về năng lượng, công nghệ cao, đầu tư và chuyển giao công nghệ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Việt Nam và Liên bang Nga đưa hợp tác công nghệ chiến lược trở thành một trụ cột mới của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, hướng tới cùng làm chủ công nghệ, tạo sản phẩm và tham gia thị trường.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh vai trò quan trọng của cộng đồng người Việt tại Mông Cổ; đề nghị nghiên cứu, triển khai các thỏa thuận đã đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, tìm giải pháp mở rộng thị trường, nâng cao kim ngạch thương mại song phương và thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực có tiềm năng…
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi; đồng thời thực chất cắt giảm thủ tục, tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển.
Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và Học viện Tổng thống Nga thống nhất tăng cường hợp tác nghiên cứu, tư vấn chính sách, quản trị quốc gia, đổi mới sáng tạo, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.