Ngân hàng Nhà nước cần nâng cao các rào cản, hướng các điều kiện theo thông lệ quốc tế.
Ngày 8/8, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có văn bản thông báo tạm ngừng cấp phép thành lập các ngân hàng mới cũng như tạm ngừng nhận các hồ sơ xin phép liên quan.
“Lẽ ra phải sớm hơn”
Đây là bình luận của TS. Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu Kinh tế Xã hội Hà Nội, khi trao đổi với VnEconomy về sự kiện trên.
“Theo tôi, lẽ ra quyết định trên của Ngân hàng Nhà nước phải được đưa ra sớm hơn, thời điểm này là hơi chậm, bởi những bất cập từ sự ra đời của những ngân hàng mới đã có ảnh hưởng trên thực tế”, TS. Phong nói.
Trước đó, nhiều khuyến nghị từ các chuyên gia trong và ngoài nước đã lên tiếng về yêu cầu đó. Yêu cầu này có từ một loạt ngân hàng thương mại cổ phần mới “đi đường vòng” chuyển đổi trong năm 2007, và sau đó được xem là một trong những tác nhân gây lạm phát tăng cao, căng thẳng lãi suất cũng như khó khăn của thị trường chứng khoán.
Gốc rễ của những khó khăn đó, theo phân tích của TS. Nguyễn Minh Phong, là do những ngân hàng mới đó được thành lập, loạt hồ sơ xin thành lập đó không do yêu cầu của nền kinh tế, mà chủ yếu theo sự phát triển và nguồn lợi hấp dẫn của thị trường chứng khoán; theo nguồn lợi cho vay mở rộng.
Ông phân tích: “Ở đây, nền kinh tế cũng như trong hoạt động của hệ thống ngân hàng đã bộc lộ hai hệ quả chính. Thứ nhất là do sự tham gia của loạt ngân hàng mới, cung tiền tăng và là một nguyên nhân dẫn tới lạm phát khó khăn như hiện nay. Thứ hai là hệ quả về an toàn hệ thống. Tôi cho rằng nợ xấu, nợ khó đòi đang là một vấn đề mà các ngân hàng phải đối mặt”.
Trước đó, liên quan đến tính an toàn của hệ thống, chuyên gia kinh tế Huỳnh Thế Du cũng đã cảnh báo việc có quá nhiều ngân hàng trong một nền kinh tế quy mô còn nhỏ sẽ dễ dẫn tới những rủi ro. Cụ thể là những cuộc đua lãi suất căng thẳng và tính thanh khoản trong thời gian qua. Và khi một ngân hàng cổ phần gặp rủi ro, đổ vỡ có thể là một “ngòi nổ” kích hoạt tính an toàn của cả hệ thống.
Ngoài những hệ lụy chính nói trên, TS. Nguyễn Minh Phong còn cho rằng việc dễ dãi trong cấp phép và sự ra đời của nhiều ngân hàng mới mà không do nhu cầu thực sự của nền kinh tế cũng chính là một yếu tố gây tổn thương nặng nề đối với thị trường chứng khoán thời gian qua.
“Cổ phiếu ngân hàng mới, cũ, lớn, nhỏ đồng loạt tăng lên, có thể tạo những mức giá ảo, rồi lại đồng loạt sụt giảm. Rồi thị trường chứng khoán lại chứng kiến việc tăng vốn ồ ạt của các ngân hàng; rồi những rủi ro trong việc ngân hàng chưa thành lập những đã rao bán, chuyển nhượng cổ phần… Mà cổ phiếu ngân hàng luôn có ảnh hưởng lớn trên thị trường. Ở đây cũng có trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước”, TS. Phong nói.
Nhiều yêu cầu cần xét lại
Lý do tạm ngừng cấp phép lập ngân hàng mới là để điều chỉnh lại các tiêu chí, điều kiện liên quan. Trả lời VnEconomy, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết hiện kế hoạch điều chỉnh này đang chờ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về lộ trình, định hướng… nên chưa thể đưa ra thông tin cụ thể trong thời điểm này.
Còn theo ý kiến của các chuyên gia, việc điều chỉnh các điều kiện cần phải theo hướng nâng cao các rào cản và thực hiện theo thông lệ quốc tế.
Điểm đáng chú ý là quy chế thành lập và hoạt động ngân hàng mới vừa được Ngân hàng Nhà nước ban hành một năm trước đó (ngày 7/6/2007), một số điểm cũng vừa được chỉnh sửa đầu năm nay. Nhưng nay, yêu cầu tiếp tục chỉnh sửa đặt ra cho thấy thực tế của nền kinh tế đã có nhiều biến chuyển nhanh, “đời sống” của các rào cản chính sách trở nên ngắn ngủi.
Một trong những rào cản chính theo quy chế trên là ngân hàng mới thành lập phải có vốn tối thiểu 1.000 tỷ đồng. Điều kiện này nhanh chóng trở nên dễ dàng khi đề án thành lập nhiều ngân hàng đã chọn ngay mức 1.500 tỷ, 3.000 tỷ, thậm chí lên đến 5.000 tỷ đồng.
Về điều kiện này, một số ý kiến trước sự kiện Ngân hàng Nhà nước thông báo ngừng cấp phép nói trên, cho rằng cần áp quy định vốn tối thiểu lên mức 5.000 tỷ đồng để sàng lọc các yêu cầu, để có những nguồn vốn từ các tổ chức thực sự mạnh và không phải vay mượn.
Theo ý kiến của TS. Nguyễn Minh Phong, việc điều chỉnh các điều kiện cần xác định theo hướng đề cao tính lành mạnh của ngân hàng đó cũng như của hệ thống, đảm bảo yêu cầu hoạt động vững chắc trong tương lai và theo các chuẩn mực của thế giới.
Đó là phải xét đến thực vốn của các bên tham gia, thực lực của trình độ, đặc biệt trong lĩnh vực chuyên ngành và nhạy cảm như hoạt động ngân hàng; đề cao yêu cầu về minh bạch và sự khách quan, chuyên nghiệp trong hoạt động. Và chính Ngân hàng Nhà nước cũng phải nâng cao vai trò và khả năng giám sát của mình.
“Và trước khi điều chỉnh các tiêu chí, điều kiện, tôi cho rằng cần phải xét đến điểm xuất phát là nhu cầu xin thành lập. Tránh những nhu cầu đầu tư chéo, nhu cầu xem đó như một hoạt động đầu tư tài chính, nhu cầu xem lập ngân hàng như một công ty tài chính huy động vốn và phục vụ cho vay theo yêu cầu của mình”, TS. Phong đặt vấn đề.
Liên quan đến yêu cầu quản trị, theo khuyến nghị của ông Võ Tấn Hoàng Văn, Phó tổng giám đốc Công ty Kiểm toán Ernst & Young Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước cần xem xét bổ sung thêm các ủy ban mới trong cơ cấu tổ chức ngân hàng như Ủy ban đề cử (đề cử các vị trí nhân sự chủ chốt), Ủy ban lương thưởng…, cũng như có quy định bắt buộc về sự tham gia và mức độ tham gia của các thành viên độc lập trong Hội đồng Quản trị mà không có quan hệ kinh tế với ngân hàng, nhằm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả hoạt động.
Hiện tại, theo quy chế “cũ” đã có thêm hai ngân hàng mới được thành lập và đi vào hoạt động. Và khi quy chế mới điều chỉnh hoàn thành, thị trường sẽ có thêm nhiều hay ít ngân hàng mới? Câu hỏi này còn chờ ở mức độ của các điều kiện sau chỉnh sửa. Còn theo ý kiến chung của các chuyên gia, số lượng đó cần phát xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế, tránh theo chủ quan của các đầu mối xin thành lập.
Trước mắt, khó khăn của nền kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng, khó khăn kéo dài trong thời gian chờ đợi cấp phép (hiện chưa có mốc xác định thời điểm “mở cửa” trở lại) có thể sẽ hạn chế bớt nhu cầu ở loại hình kinh doanh đặc biệt này.
Ngân hàng Nhà nước vừa công bố báo cáo cán cân thanh toán (BOP) quý I/2026, cho thấy thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể 1,078 tỷ USD, chấm dứt chuỗi 3 quý liên tiếp thặng dư. Diễn biến này phản ánh cân đối đối ngoại đã kém thuận lợi hơn so với giai đoạn cuối năm 2025 khi xuất siêu hàng hóa thu hẹp và các dòng vốn ngắn hạn giảm tốc. Dù vậy, thị trường ngoại hối vẫn duy trì ổn định...
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý III/2026 của các tổ chức tín dụng cho thấy nhu cầu vay vốn của nhóm khách hàng là tổ chức kinh tế (doanh nghiệp) đã vượt nhóm khách hàng cá nhân, trở thành động lực tăng trưởng chính. Trong quý III/2026, các tổ chức tín dụng dự kiến cả huy động vốn và dư nợ tín dụng đều tăng bình quân 4,2%...
Chính phủ vừa hoàn thiện bộ máy Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, đặt mục tiêu xây dựng một trung tâm tài chính hiện đại, minh bạch và hội nhập quốc tế, gắn với vai trò đầu tàu của TP.Hồ Chí Minh và TP.Đà Nẵng…
Theo khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm trực tuyến của 36 ngân hàng thương mại ngày 6/7, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 - 12 tháng phổ biến ở mức 6,2 - 7%/năm. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều ngân hàng áp dụng các chương trình ưu đãi hoặc lãi suất thỏa thuận, giúp mức lãi suất khách hàng thực nhận cao hơn từ 0,8 - 2,5 điểm phần trăm so với biểu niêm yết...
Sáng 6/7, tỷ giá USD tự do giảm 60 đồng chiều mua và 50 đồng chiều bán so với cuối tuần trước, giao dịch quanh mức 26.520 – 26.560 VND. Giá mua USD tự do cao hơn khoảng 370 VND so với mức mua cao nhất tại các ngân hàng, trong khi khoảng cách ở chiều bán chỉ còn 100 VND…
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Các đối tượng đều thành lập doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức góp vốn, đầu tư kinh doanh. Đây là một loại núp bóng trá hình, đặc biệt là tập trung vào lĩnh vực du lịch, nghỉ dưỡng và chăm sóc sức khỏe, y tế. Đó là cảnh báo của Bộ Công an liên quan đến tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.