Một trùng hợp rất thú vị là "mùa rươi" cũng là mùa quýt và vỏ của loại quýt được mệnh danh "quýt hôi" này là thứ không thể thiếu được trong bất cứ món rươi nào.

Đặc sản rươi của miền Bắc là một loại thực phẩm cực kì thơm ngon và bổ dưỡng nhưng không phải ai cũng biết đến. Một phần cũng bởi loại hải trùng này chỉ có vào mùa thu, khoảng từ tháng 8 đến tháng 10 âm lịch ở một số tỉnh. Trước đây, chỉ những người sành ăn, thường săn lùng của ngon vật lạ mới biết đến rươi. Theo thời gian, rươi ngày càng được nhiều người yêu thích và tìm mua khiến chúng càng thêm quý hiếm.

Rươi có thể chế biến thành rất nhiều món khác nhau như chả rươi, rươi kho, mắm rươi, rươi rang muối, rươi cuốn lá lốt… Bạn hoàn toàn có thể mua rươi tươi sống hoặc rươi đông lạnh về để tự chế biến tại nhà. Nếu để ý ta sẽ thấy các món chế biến từ rươi hầu hết đều có một thứ gia vị đó là vỏ quýt.

Thành phần hóa học: trong 100g rươi có 81,9g nước, 12,4g protit, 4,4 lipit, 1,3g tro, cung cấp cho cơ thể 92 calo. Như vậy, so với thịt bê nạc, giá trị dinh dưỡng của rươi đâu có kém (trong 100g thịt bê nạc có 78,2g nước, 20g protit, 0,5g lipit, 1,3g tro cung cấp được 87calo). Ngoài ra, trong rươi còn có nhiều loại muối khoáng, như canxi (66mg%), photpho (57mg%), sắt (1,8mg%)…

Có giá trị dinh dưỡng cao là thế, nhưng khi tiêu thụ các món ăn từ rươi đều phải ghi nhớ kỹ, rươi dù sao cũng là một loài thuộc họ giun, sống trong môi trường bùn cát, đáy nước nên khó có thể kiểm soát được những mầm mống gây hại có trong rươi trước khi mang đi chế biến.

Rươi và vỏ quýt: trong món ăn có vị thuốc - Ảnh 1.

Ảnh: Phương Ruby Cherry (Yêu Bếp)

Rươi dễ nhiễm chất độc từ môi trường sống và hoàn toàn có thể là vật trung gian truyền nhiều loại vi khuẩn gây bệnh như Salmonella, E.coli, gây ra các bệnh đường ruột nguy hiểm nếu không sơ chế cẩn thận và chế biến đúng cách.

Nhưng hay ở chỗ, việc kết hợp rươi và vỏ quýt để làm ra món chả "cực phẩm" mùa thu, không chỉ khiến món rươi càng thêm thơm ngon về hương vị mà còn có thể phòng chống được những hệ lụy không may khi cơ thể tiêu thụ rươi.

Theo Đông y, trong vỏ quýt có chứa 3.8% tinh dầu, 9% hectozan, ngoài ra còn có các chất khác như carotene, vitamin B1, B2, rất tốt trong việc phòng và chữa những bệnh liên quan đến đường tiêu hóa.

Theo Đông y, vỏ quýt (hay còn gọi là trần bì) vốn là phần thường bị bỏ đi sau khi sử dụng phần thịt quả thực chất lại có rất nhiều tác dụng đối với sức khỏe. Loại dược liệu này rất phổ biến trong y học cổ truyền, trong đó tác dụng nổi bật là phòng và chữa những bệnh liên quan đến đường tiêu hóa và hô hấp. Khi đi vào cơ thể, vỏ quýt hỗ trợ làm dạ dày ấm lên cho cảm giác dễ chịu, chúng còn có tác dụng hóa đờm tiêu ích. Vỏ quýt tạo cảm giác ngon miệng khi ăn, giảm căng thẳng mệt mỏi, giúp thư giãn tinh thần.

Lượng đạm cao, không giống như đạm có trong các thực phẩm thông thường như thịt bò, thịt lợn khiến món rươi có thể gây ra những phản ứng tiêu hóa cho người sử dụng. Từ 2 - 3 vỏ quýt băm nhỏ, thái sợi hay nghiền thành bột sẽ giúp món rươi thơm ngon hơn nhưng quan trọng nhất là để hỗ trợ quá trình tiêu hóa rươi. Chỉ có vỏ quýt hôi hăng hăng cho vào mới đủ làm ấm và thơm món rươi ăn ngày se lạnh, mới cân bằng được cái tanh, tính hàn và nhiều đạm của loài nhuyễn thể ấy.

Rươi và vỏ quýt: trong món ăn có vị thuốc - Ảnh 2.
Ngoài ra, các cụ ta xưa cũng lưu ý rằng những ai có tiền sử bị dị ứng với hải sản được khuyên là không nên ăn rươi để tránh những tác hại không đáng có. Riêng bà bầu và trẻ em cũng không nên ăn rươi nhiều. Với bà bầu, rươi dễ gây khó tiêu, đầy bụng ảnh hưởng không tốt đến em bé. Còn với trẻ em, hệ tiêu hóa đang trong quá trình hoàn thiện, việc ăn rươi nhiều cùng một lúc cũng có thể gây ra những tác hại không đáng có.

Đặc biệt, nếu chẳng may cơ thể không thể tiếp thu đạm rươi, thậm chí nặng hơn là gây ra ngộ độc, sốc phản vệ, người ăn phải lập tức đến bệnh viện hay các cơ sở y tế để theo dõi và khám chữa trị theo hướng dẫn của bác sĩ. Tuyệt đối không được phỏng đoán và tự chữa theo kinh nghiệm tại nhà.

Một loại vaccine ung thư dựa trên vật liệu sinh học đang được nghiên cứu bởi Đại học Harvard.

Ngày nay, có nhiều phương pháp điều trị ung thư nhưng mỗi một phương pháp đều có những hạn chế nhất định. Hóa trị tiêu diệt các tế bào ung thư nhưng đồng thời cũng làm tổn thương các tế bào khác của cơ thể. Liệu pháp miễn dịch tác động lên hệ thống miễn dịch của người bệnh tạo ra phản ứng chống ung thư lâu dài nhưng lại thường gặp khó khăn trong tiếp cận các khối u.

Người khỏe mạnh, mỗi ngày cơ thể cũng phát sinh 5 đến 6 ngàn tế bào đột biến, dị dạng. Nhờ hệ thống miễn dịch tấn công, tiêu diệt các tế bào này không thể phát triển thành tế bào ung thư. Do đó, suy giảm chức năng miễn dịch cũng là một yếu tố nguy cơ khiến ung thư cho con người. Và liệu pháp "vaccine ung thư" nhằm mục đích loại bỏ các tế bào ung thư thông qua việc kích hoạt và tăng cường khả năng tấn công chống lại các tế bào ung thư của hệ thống miễn dịch.

Một loại vaccine ung thư dựa trên vật liệu sinh học đang được nghiên cứu bởi Đại học Harvard, được kỳ vọng sẽ là lời giải cho những hạn chế trong điều trị ung thư. Theo tác giả, phương pháp này sẽ tổng hợp sức mạnh tiêu diệt khối u của hóa trị liệu và đem lại hiệu quả lâu dài tương tự liệu pháp miễn dịch.

Vaccine sinh học: kỳ vọng mới trong điều trị ung thư - Ảnh 1.
TS Hua Wang, Đại học Harvard, đại diện nhóm tác giả cho biết: "Vaccine ung thư đã được thử nghiệm trên những con chuột mắc bệnh ung thư vú bộ ba âm tính và cho kết quả khả quan, khi 100% chuột thử nghiệm sống sót sau khi được tiêm vaccine mà không tái phát".

Khác với tế bào khỏe mạnh, trên bề mặt các tế bào ung thư có một số phân tử cấu tạo nhất định gọi là "kháng nguyên đặc hiệu ung thư". Vaccine điều trị ung thư thường được chiết trích từ khối u có các kháng nguyên đặc hiệu này, lại được tăng cường với tá dược hỗ trợ, được tiêm vào người để kích thích miễn dịch. Các tế bào miễn dịch đuôi gai (dendritic cells) sẽ nhận diện các tế bào ung thư và khởi động quá trình thực bào, rồi chuyển chuyển thông tin "ung thư" đến các tế bào lympho, để các tế bào này tấn công tiêu diệt các tế bào ung thư.

Các kết quả nghiên cứu và thử nghiệm của Đại học Harvard đã cho thấy tác dụng của vaccine trong việc kích hoạt hệ thống miễn dịch, tạo ra các phản ứng miễn dịch mạnh mẽ. Đồng thời, nó còn có khả năng tập trung liều hóa chất tại khu vực khối u, để tránh tác dụng phụ không mong muốn. Nhóm nghiên cứu cũng đang tiếp tục khám phá sự kết hợp giữa hóa trị với vaccine ung thư và hy vọng sẽ cải thiện hiệu quả với các loại ung thư khó điều trị khác.

Nhóm nghiên cứu hy vọng rằng, các công trình khoa học trong tương lai sẽ hiểu rõ hơn và tối ưu hóa vắc xin ung thư, cho phép chuyển sang các thử nghiệm tiền lâm sàng và cuối cùng là ứng dụng trong chữa trị cho người bệnh.

Vaccine sinh học: kỳ vọng mới trong điều trị ung thư - Ảnh 2.
Hiện nay, hầu hết các vaccine điều trị ung thư đều đang qua các thử nghiệm lâm sàng liên quan người tình nguyện viên. Danh sách các cơ quan bị ung thư đang thử nghiệm lâm sàng vaccine khá dài gồm: Bàng quang, Não bộ, Vú, Cổ tử cung, Đại trực tràng, Thận, Máu, Phổi, Da, Tủy xương, Tụy tạng, Tiền liệt tuyến.

Chỉ một mình vaccine Sipuleucel-T (Provenge) đã được Cơ quan Quản lý Thực và Dược phẩm Hoa Kỳ FDA cho phép sử dụng để điều trị ung thư tiền liệt di căn vào năm 2010. Vaccine Sipuleucel-T này được cá nhân hóa cho từng bệnh nhân qua các bước: Trích bạch cầu từ máu người bệnh; Chỉnh đổi các bạch cầu trong phòng thí nghiệm để chúng nhận biết các tế bào ung thư tiền liệt;Truyền các bạch cầu đã chỉnh sửa vào lại người bệnh để chúng "dạy" hệ thống miễn dịch tìm diệt tế bào ung thư tiền liệt…

Gõ từ khóa và nhấn Enter