
Năm 2010, Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) đã đặt mục tiêu xuất khẩu 1 triệu tấn xi măng. Đây được xem là lối ra cho xi măng Việt Nam, một trong những nước có sản lượng xi măng nhiều nhất thế giới hiện nay.
Năm 2009 các doanh nghiệp trong Vicem đã sản xuất và tiêu thụ 17,73 triệu tấn xi măng, 0,22 triệu tấn clinker. Trong năm 2010 Vicem sẽ có thêm 7 dự án mới đi vào hoạt động và đưa công suất của Vicem lên gần 20 triệu tấn.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong tháng 3/2010 sản lượng xi măng cả nước ước đạt 4,09 triệu tấn, tăng 1,23 triệu tấn so với tháng 2 và đưa lượng xi măng sản xuất trong quý 1 lên 11,13 triệu tấn.
Tiêu thụ xi măng trong tháng 3/2010 nước đạt 3,93 triệu tấn tăng 1,68 triệu tấn so với tháng 2 và giảm 0,33 triệu tấn (8%) so với cùng kỳ năm 2009, đưa lượng xi măng tiêu thụ toàn xã hội quý 1/2010 ước đạt 10,27 triệu tấn, tăng 0,62 triệu tấn (6,4%) so với cùng kỳ năm 2009.
Cho đến nay cả nước có trên 105 dây chuyền với công suất thiết kế hơn 61 triệu tấn xi măng đang hoạt động, nhưng ước tính lượng xi măng sản xuất trong cả nước chỉ vào khoảng 53 triệu tấn/năm. Trong khi đó nhu cầu tiêu thụ trong nước vào năm 2010 chỉ khoảng 48 - 50 triệu tấn .
Vì vậy, Chính phủ đã tính đến việc “cứu” tình trạng dư thừa xi măng bằng việc yêu cầu các công trình giao thông nông thôn phải làm bằng bê tông. Tuy nhiên, ông Trần Văn Huynh, Chủ tịch Hiệp hội Vật liệu xây dựng Việt Nam cho rằng việc tiêu thụ theo cách như vậy không ổn bởi cho đến nay chương trình xây dựng đường giao thông nông thôn bằng vật liệu xi măng chưa được triển khai tốt và cách tốt nhất để tiêu thụ xi măng chỉ có thể là xuất khẩu.
Từ cuối năm 2008 Vicem cùng các doanh nghiệp trong ngành đã tìm đến những thị trường lân cận như Campuchia, Lào, Trung Quốc để tìm đầu ra cho xi măng. Cũng có những hợp đồng được ký nhưng chỉ dừng lại ở số lượng nhỏ. “Bạo dạn” hơn Vicem, một số doanh nghiệp xi măng khác đã tìm đến những thị trường lớn hơn ở châu Phi, châu Âu, Mỹ...
Công ty Xi măng Cẩm Phả đã xuất khẩu được 12.500 tấn sang thị trường châu Phi và cho biết đã ký được hợp đồng xuất khẩu 40.000 tấn/tháng sang Nam Phi và vùng lân cận với đối tác Pionaire Finance Ltd. Ngoài ra còn hoàn tất việc đàm phán với đối tác Universal Best Services, LLC để ký hợp đồng khung đưa clinker và xi măng vào thị trường Mỹ và Nam Mỹ với sản lượng hàng triệu tấn/năm...
Tuy nhiên tất cả mới chỉ dừng lại ở tìm kiếm thị trường, việc xuất khẩu thực tế còn bỏ ngỏ. Hiện nay xi măng Cẩm Phả tiêu thụ chủ yếu cho các công trình của Vinaconex.
Theo ông Bùi Hồng Minh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tài chính xi măng (CFC) , xuất khẩu được xem là “van” điều tiết thị trường xi măng trong nước hiện nay và trong tương lai. Tuy nhiên phần nhiều các đơn hàng xuất khẩu hiện nay đều qua trung gian nên phải chịu một khoản chi phí môi giới khá cao làm tăng giá thành sản phẩm. Đó là một trong những nguyên nhân làm giảm khả năng cạnh tranh của xi măng Việt Nam so với các nước khác.
Phân tích về những thị trường xi măng Việt Nam đã tìm đến, nhiều chuyên gia cho biết, chỉ nhìn vào thị trường Lào và Campuchia cho thấy xi măng Việt Nam yếu thế hơn hẳn xi măng của Thái Lan. Chất lượng thì không thua kém nhưng nhưng giá thành cao do quãng đường vận chuyển. Mặt khác, giá clinker của Thái Lan hiện rẻ hơn của Việt Nam khoảng 10% nên giá thành xi măng cũng rẻ hơn.
Ông Trần Văn Huynh cho rằng mục tiêu xuất khẩu 1 triệu tấn xi măng năm 2010 của Vicem khó thực hiện được bởi lâu nay các công ty xi măng trong nước ít chú ý đến xuất khẩu mà chỉ quan tâm đến cạnh tranh trong nước. Nhưng cũng không ít chuyên gia cho rằng việc các doanh nghiệp xi măng Việt Nam muốn tìm đến những thị trường lớn như Mỹ, châu Âu cũng là một sai lầm.
Thứ nhất, đó là những nơi mà cơ sở hạ tầng gần như hoàn thiện nên nhu cầu sử dụng xi măng không còn cao. Thứ hai, những thị trường này đòi hỏi khắt khe không chỉ về chất lượng mà còn nhiều yếu tố khác như dây chuyền công nghệ, việc bảo vệ môi trường nơi sản xuất..., điều mà không có nhiều doanh nghiệp xi măng Việt Nam đáp ứng được. Những thị trường mới như châu Phi, hay những nước đang phát triển, cơ sở hạ tầng còn thiếu và đây chính là thị trường tiềm năng cần đẩy mạnh khai thác.




Thị trường vận tải biển quốc tế từ đầu tháng 5/2026 đến nay đang chứng kiến đợt tăng giá cước mạnh trên nhiều tuyến vận chuyển trọng điểm, đặc biệt là các tuyến kết nối châu Á với Bắc Mỹ và châu Âu. Đối với ngành thủy sản Việt Nam, đây là diễn biến đáng lo ngại bởi logistics luôn là một trong những khoản chi phí lớn nhất trong cơ cấu giá thành xuất khẩu...
Kết quả thẩm tra và phê duyệt cập nhật Danh sách doanh nghiệp thủy sản Việt Nam được phép xuất khẩu vào thị trường Đài Loan là cơ sở quan trọng giúp các doanh nghiệp duy trì hoạt động xuất khẩu ổn định, nâng cao khả năng tiếp cận và mở rộng thị phần...
Từ 1/7/2026, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và chứng nhận lại chủng loại gạo thơm xuất khẩu sang EU và Vương quốc Anh để được hưởng ưu đãi thuế quan theo các Hiệp định EVFTA và UKVFTA sẽ chính thức được giao về địa phương. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính, hướng tới mô hình quản lý linh hoạt hơn, sát thực tiễn hơn và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp...
Xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng trong những tháng đầu năm 2026 nhờ sự bứt phá của các thị trường châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên, ngành gỗ cũng đang đối mặt với nhiều thách thức từ các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu xanh hóa ngày càng khắt khe từ EU và áp lực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để nâng cao năng lực cạnh tranh...
Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN (USABC) vừa có kiến nghị liên quan đến công tác quản lý nhập khẩu hóa chất của cơ quan chức năng Việt Nam. Theo Bộ Tài chính, đơn vị đã đề xuất lên Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Công thương rà soát, sửa đổi Nghị định số 26/2026/NĐ-CP để xử lý những bất cập trong quá trình triển khai.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.