
Liên quan đến thông tin phản ánh cho rằng, Bộ Y tế chậm trễ ban hành quy chuẩn sản phẩm sữa tươi phục vụ trong chương trình Sữa học đường gây khó khăn cho doanh nghiệp và người dân trong việc lựa chọn sản phẩm cho học sinh sử dụng khi năm học mới bắt đầu, Bộ Y tế đã chính thức có phản hồi về vấn đề này.
Trả lời báo chí ngày 15/8, ông Nguyễn Đức Vinh, Vụ trưởng Vụ Sức khỏe bà mẹ - trẻ em, Bộ Y tế, cho biết, ngày 8/7/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1340/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình Sữa học đường.
Ngay sau quyết định trên, ngày 28/9/2016 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 5450/QĐ-BYT về Quy định tạm thời đối với sản phẩm sữa tươi phục vụ chương trình Sữa học đường và ban hành nhiều văn bản hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện Chương trình Sữa học đường.
Trong hướng dẫn, Bộ Y tế nhấn mạnh, sản phẩm dùng trong Chương trình Sữa học đường phải sử dụng nguyên liệu đạt quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về sữa tươi nguyên liệu theo Thông tư số 29/2017/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nguyên liệu sữa tươi này khi sản xuất thành sản phẩm sữa học đường phải đạt yêu cầu theo quy định tại quyết định số 5450/QĐ-BYT của Bộ Y tế..
Như vậy, theo ông Nguyễn Đức Vinh, có thể khẳng định Quyết định số 5450/QĐ-BYT của Bộ Y tế và Thông tư số 29/2017/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cũng như các hướng dẫn của Bộ Y tế đã quy định rất rõ yêu cầu về tiêu chuẩn đối với các sản phẩm sữa tươi sử dụng trong chương trình Sữa học đường.
Trong khi Bộ Y tế chưa ban hành quy định mới, các quy định, hướng dẫn của Bộ này, vẫn cần được thực hiện nghiêm túc như trong thời gian qua.
Ông Nguyễn Đức Vinh cho biết, qua công tác giám sát của Bộ Y tế và báo cáo của các địa phương, hiện có 15 tỉnh đã và đang triển khai Chương trình Sữa học đường bằng các nguồn kinh phí của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Đặc biệt, có tỉnh rất khó khăn như Sơn La vẫn dành kinh phí của địa phương ưu tiên triển khai chương trình.
Cũng theo ông Nguyễn Đức Vinh, việc bổ sung các loại vi chất trong sản phẩm sữa tươi phục vụ chương trình Sữa học đường cần có cơ sở khoa học như bổ sung loại vi chất nào, hàm lượng bao nhiêu, căn cứ vào tình trạng thiếu hụt vi chất của trẻ… nhằm đảm bảo tính thực tiễn, tính khả thi, phù hợp thông lệ quốc tế.
Quan trọng hơn cả là thực hiện chỉ tiêu trong Quyết định số 1340/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ, đó là đáp ứng thêm 30% nhu cầu sắt, Vitamin D, canxi của trẻ đến năm 2020.
Vụ trưởng Vụ Sức khỏe bà mẹ - trẻ em (Bộ Y tế) thông tin thêm, hiện Bộ này cũng đang khẩn trương hoàn thiện quy định về sản phẩm sữa tươi phục vụ Chương trình Sữa học đường, đảm bảo công khai, minh bạch trên cơ sở ý kiến của các nhà khoa học, đại diện các doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.