Tổ chức tín dụng sẽ bị chấm dứt tư cách pháp nhân, nếu không có phương án đảm bảo mức vốn pháp định, Ngân hàng Nhà nước vừa cho biết.
Để đảm bảo các tổ chức tín dụng thực hiện việc tăng vốn điều lệ theo đúng quy định tại Nghị định 141/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ về ban hành danh mục vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, ngày 10/5, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có văn bản số 3417/NHNN-TTGSNH yêu cầu tổ chức tín dụng có mức vốn điều lệ trong năm 2010 chưa đảm bảo mức vốn pháp định theo nghị định nêu trên triển khai một số công việc có liên quan.
Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu chậm nhất ngày 30/6/2010 tổ chức tín dụng phải trình Ngân hàng Nhà nước hồ sơ đề nghị chấp thuận tăng vốn (đảm bảo mức vốn pháp định tại Nghị định 141) theo quy định hiện hành.
Sau thời điểm trên, trường hợp tổ chức tín dụng không trình Ngân hàng Nhà nước chấp thuận việc tăng vốn điều lệ, cơ quan này tạm thời không xem xét đề nghị mở rộng mạng lưới (công ty trực thuộc, sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, ATM, điểm giao dịch) hoặc bổ sung nội dung hoạt động của tổ chức tín dụng.
Đối với các tổ chức tín dụng đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tăng vốn điều lệ đảm bảo mức vốn pháp định tại Nghị định 141, định kỳ ngày mùng 5 hàng tháng, tổ chức tín dụng có văn bản báo cáo việc thực hiện tăng vốn điều lệ về Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố (đối với tổ chức tín dụng cổ phần) hoặc cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng (đối với tổ chức tín dụng không phải cổ phần), trong đó nêu rõ những khó khăn, vướng mắc (nếu có).
Đặc biệt, đối với các tổ chức tín dụng không trình Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tăng vốn điều lệ hoặc không được chấp thuận tăng vốn điều lệ để đảm bảo mức vốn pháp định tại Nghị định 141, chậm nhất ngày 30/9/2010, tổ chức tín dụng phải có phương án chấm dứt tư cách pháp nhân của mình theo luật định (bao gồm: sáp nhập, hợp nhất, mua lại, tự giải thể…) trình Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố (đối với tổ chức tín dụng cổ phần) hoặc cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng (đối với tổ chức tín dụng không phải cổ phần).
Cũng trong ngày 10/5, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có văn bản số 3418/NHNN-TTGSNH yêu cầu giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố có trách nhiệm đôn đốc, giám sát các tổ chức tín dụng cổ phần trên địa bàn thực hiện việc tăng vốn điều lệ theo đúng chỉ đạo của Thống đốc tại văn bản số 3417/NHNN-TTGSNH ngày 10/5/2010.
Đối với các tổ chức tín dụng cổ phần đã được Thống đốc chấp thuận tăng vốn điều lệ, căn cứ báo cáo của các tổ chức tín dụng cổ phần, định kỳ ngày mùng 10 hàng tháng, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố tổng hợp, có văn bản báo cáo Thống đốc về tình hình tăng vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng cổ phần trên địa bàn, trong đó nêu rõ những khó khăn, vướng mắc (nếu có) và đề xuất biện pháp xử lý thích hợp đối với từng trường hợp.
Đối với các tổ chức tín dụng không trình Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tăng vốn điều lệ hoặc không được chấp thuận tăng vốn điều lệ, trên cơ sở phương án chấm dứt tư cách pháp nhân của tổ chức tín dụng cổ phần, chậm nhất ngày 30/10/2010 Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố có văn bản báo cáo Thống đốc, trong đó nêu rõ thực trạng hoạt động, đánh giá tính khả thi của phương án chấm dứt tư cách pháp nhân và đề xuất quan điểm xử lý đối với từng tổ chức này.
Theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP về danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng được Chính phủ ban hành ngày 22/11/2006, chậm nhất vào ngày 31/12/2008 và 31/12/2010, tổ chức tín dụng được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải có biện pháp bảo đảm có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp định theo danh mục cụ thể.
Với các ngân hàng thương mại, mức vốn pháp định áp dụng cho đến năm 2010 là 3.000 tỷ đồng; chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 15 triệu USD; với ngân hàng chính sách, ngân hàng phát triển là 5.000 tỷ đồng; ngân hàng đầu tư, ngân hàng hợp tác và quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là 3.000 tỷ đồng; với công ty tài chính là 500 tỷ đồng; công ty cho thuê tài chính là 150 tỷ đồng.
Dòng tiền nhàn rỗi dưới 6 tháng đang được nhiều ngân hàng nhắm tới bằng chứng chỉ tiền gửi có mức sinh lời quanh 7%/năm, thậm chí trên 8%. Khảo sát tại 6 ngân hàng trên địa bàn TP. Hà Nội cho thấy, đằng sau các mức lợi suất hấp dẫn được quảng bá là những cấu trúc phức tạp: thời gian nắm giữ vài tháng chưa chắc là kỳ hạn của chứng chỉ tiền gửi, còn “tất toán” đôi khi thực chất gắn với một giao dịch chuyển nhượng..
Đến cuối tháng 7/2026, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và TP. Đồng Nai đã đạt mức 6,329 triệu tỷ đồng, chiếm 31,2% tổng dư nợ tín dụng cả nước và tăng 9% so với cuối năm trước…
Tỷ giá USD/VND giảm trên thị trường liên ngân hàng và tại nhiều ngân hàng thương mại trong những phiên đầu tháng 9. Tuy nhiên, đà giảm này đứng trước phép thử từ bên ngoài khi khả năng Fed nâng lãi suất đang tăng lên, các ngân hàng trung ương nhóm G10 cũng họp trong tháng này giữa áp lực thắt chặt chính sách tiền tệ...
Khảo sát gần 40 ngân hàng ngày 3/9 cho thấy lãi suất tiết kiệm trực tuyến phân hóa từ kỳ hạn 6 tháng trở lên, với mức cao nhất 8,2%/năm theo chương trình ưu đãi của Timo by BVBank. Trong khi kỳ hạn 12 tháng nhích lên tại nhiều ngân hàng, khách hàng gửi tiền 18 tháng chưa chắc hưởng lãi suất cao hơn, thậm chí một số ngân hàng giảm mạnh…
Từ ngày 1/12/2026, tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản mã hóa được bổ sung vào diện đối tượng báo cáo theo quy định về phòng, chống rửa tiền. Luật vừa được Quốc hội thông qua cũng quy định 15 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa, trong đó có giao dịch giá trị lớn trong thời gian ngắn không rõ mục đích kinh doanh, chia nhỏ giao dịch hoặc sử dụng công cụ cho phép ẩn danh...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Theo kết quả chấm điểm về giải ngân vốn đầu tư công tháng 8/2026 do Bộ Tài chính vừa công bố, Thanh Hóa nằm trong tốp các tỉnh, thành phố có tốc độ giải ngân đầu tư công rất tốt, xếp thứ 17 trong số 34 tỉnh, thành phố về giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; xếp thứ 12 về giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 được phép kéo dài sang năm 2026. Kết quả này tiếp tục cho thấy sự chuyển động tích cực trong tổ chức thực hiện, đồng thời tạo thêm động lực để tỉnh khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ các dự án, đưa nguồn vốn đầu tư thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.