Ngân hàng và doanh nghiệp tìm cách vực dậy thế mạnh chủ lực ở Tây Nguyên

Tại Hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp khu vực Tây Nguyên, có ý kiến đề xuất xây dựng gói tín dụng đặc thù cho ngành cà phê, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu ngành và có tính bền vững để cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài...

Cà phê Tây Nguyên là một trong những nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Cà phê Tây Nguyên là một trong những nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Chiều 20/10, Ngân hàng Nhà nước phối hợp với UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức "Hội nghị kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp khu vực Tây Nguyên".

Khu vực Tây Nguyên có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh gắn với đặc điểm lợi thế về phát triển nông, lâm nghiệp.

Ngân hàng Nhà nước cho biết đến 30/9/2023, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tại khu vực Tây Nguyên đạt 269.417 tỷ đồng, tăng gần 8%; tổng dư nợ tín dụng đạt 508.102 tỷ đồng, tăng 6% so với 31/12/2022, chiếm khoảng 4,01% tổng dư nợ nền kinh tế.

Dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn này đạt khoảng 297.501 tỷ đồng, tăng 3,15% so với cuối năm 2022 chiếm 9,65% so với dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn toàn quốc. Dư nợ cho vay các mặt hàng chủ lực như cà phê, cao su, hồ tiêu đều tăng khá, với dư nợ là 76.255 tỷ đồng, chiếm 15% tổng dư nợ của vùng Tây Nguyên, tăng 7,06% so với cuối năm 2022, chiếm khoảng 82% dư nợ cho vay cà phê toàn quốc.

 Dư nợ cao su đạt 7.168 tỷ đồng, chiếm 1,4% tổng dư nợ của vùng Tây Nguyên, chiếm 15,7% dư nợ cho vay cao su toàn quốc…); dư nợ cho vay ngành công nghiệp, xây dựng đạt mức tăng 11,57%.

Tuy nhiên, tại Tây Nguyên, nguồn vốn huy động tại chỗ chỉ chiếm khoảng 53%. Hoạt động huy động vốn trên địa bàn chưa đáp ứng được nhu cầu về vốn tín dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trên địa bàn, các tổ chức tín dụng phải nhận điều chuyển vốn từ hội sở để phục vụ địa bàn.

Cũng theo Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng ở Tây Nguyên đã giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với khoản cho vay mới và cũ trên địa bàn ở mức 7,3% - 9,1%/năm.

VnEconomy

Nêu ý kiến tại hội nghị, nhiều doanh nghiệp vẫn mong lãi suất cho vay giảm thêm. Cụ thể, ông Phan Văn Liên, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Vinh Phúc cho biết lãi suất cho vay là 7%/ năm kỳ hạn 6 tháng, đã giảm đáng kể so với mức áp dụng hồi đầu năm. Tuy nhiên, để hỗ trợ doanh nghiệp, ông đề xuất các ngân hàng hạ lãi suất cho vay thêm còn khoảng 5 - 6%/năm là hợp lý. 

Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối quý 2/2023, đã có khoảng 320 buổi gặp gỡ, đối thoại giữa ngân hàng và doanh nghiệp được tổ chức trên toàn quốc. Thông qua chương trình, các tổ chức tín dụng đã thực hiện kết nối, hỗ trợ cho trên 145.000 doanh nghiệp với dư nợ được hỗ trợ là 1,4 triệu tỷ đồng thông qua các biện pháp như cho vay mới, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hỗ trợ khác (điều chỉnh giảm lãi suất, giảm phí,..).

Riêng với lĩnh vực cà phê, các doanh nghiệp cho biết không có đủ nguồn vốn đảm bảo thu mua và điều tiết kế hoạch dẫn tới tình trạng bị ép giá do khối lượng lớn cà phê tập trung thu hoạch vào chính vụ được bán ra trong thời gian rất ngắn. Doanh nghiệp cần đảm bảo nguồn vốn để thu mua cà phê cho người nông dân, sản xuất và xuất khẩu cà phê ngay từ đầu niên vụ. Qua đó, điều tiết hoạt động kinh doanh cũng như hỗ trợ tốt cho người nông dân phát triển cà phê theo hướng bền vững. 

Bà Trần Thị Lan Anh, Giám đốc Công ty TNHH Cà phê Vĩnh Hiệp kiến nghị ngành ngân hàng có chính sách cấp tín dụng theo từng nghành hàng, đặc biệt là các nghành nông sản xuất khẩu trong đó có cà phê.

“Đề nghị cung cấp một gói tín dụng đặc thù riêng về lãi suất, hạn mức tín dụng, chính sách liên quan đến tài sản đảm bảo cho ngành cà phê, cho các doanh nghiệp đầu ngành và có tính bền vững để cạnh tranh với các doanh nghiệp FDI”, bà Lan Anh nói.

Ngoài ra, bà Lan Anh cũng nêu tình trạng các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay chưa có nhiều phương thức tiếp cận tín dụng ngoài việc phải có tài sản đảm bảo là bất động sản.

Phát biểu tại hội nghị, ông Đào Minh Tú, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết sau thời gian kinh tế gặp khó khăn, mức độ rủi ro bị đánh giá cao hơn, khi hoạt động của doanh nghiệp khó chứng minh hiệu quả (chi phí đầu vào, nguyên vật liệu nhập khẩu cao, thị trường đầu ra, đơn hàng, doanh thu giảm...); tổ chức tín dụng rất khó khăn trong quyết định cho vay do không hạ được chuẩn tín dụng để đảm bảo an toàn hệ thống.

Song, Phó Thống đốc khẳng định:  “Với tinh thần đồng hành, chia sẻ cùng người dân, doanh nghiệp, ngành ngân hàng sẵn sàng triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng phát triển kinh tế trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên. Với những giải pháp của ngành ngân hàng và sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, UBND, HĐND, cùng với các Sở, ban, ngành, các Hội, hiệp hội sẽ giúp người dân, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố ổn định sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội bền vững”.

Hợp lực mở rộng, khai thác giá trị từ thanh toán xuyên biên giới qua mã QR

Để thanh toán QR xuyên biên giới phát triển theo chiều rộng và đi vào chiều sâu, kết nối hạ tầng mới chỉ là bước đầu; yêu cầu tiếp theo là mở rộng điểm chấp nhận, gia tăng giao dịch và tạo giá trị cho nền kinh tế. a/b lược ghi ý kiến của cơ quan quản lý và các thành viên thị trường tại Hội thảo “Thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới qua mã QR: Động lực mới cho bán lẻ và du lịch” về định hướng và giải pháp thúc đẩy phương thức thanh toán này trong thời gian tới.

Thanh toán QR xuyên biên giới: Một hạ tầng mới hỗ trợ sức mua

Khi thanh toán QR xuyên biên giới ngày càng mở rộng, bài toán không còn dừng ở việc kết nối thêm bao nhiêu quốc gia mà ở khả năng biến một thao tác quét mã đơn giản thành sức mua, doanh thu cho doanh nghiệp và dòng tiền minh bạch cho nền kinh tế. Muốn vậy, hệ sinh thái cần chuyển từ “kết nối được” sang “sử dụng được và sử dụng hiệu quả”.

Đề xuất xây dựng “tuyến phố thanh toán QR xuyên biên giới”

Đại diện cơ quan quản lý và thành viên thị trường đề xuất thí điểm mô hình xã hội hóa, đưa thanh toán QR xuyên biên giới vào các khu vực tập trung đông du khách quốc tế như phố đi bộ, phố ẩm thực, chợ đêm, làng nghề và khu kinh tế đêm. Từ đó, hình thành các “tuyến phố thanh toán số” thông suốt, liền mạch, thúc đẩy chi tiêu của du khách nước ngoài...

Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy