
Tổng cục Hải quan vừa công bố tình hình xuất nhập khẩu quý 1/2017. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất trong quý 1/2017 đạt gần 31,76 tỷ USD, chiếm 71,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Điện thoại các loại và linh kiện là nhóm hàng lớn nhất, tuy nhiên giảm 6,1% so với cùng kỳ, còn lại hầu hết các nhóm hàng trong 10 nhóm hàng lớn nhất đều đạt mức tăng trưởng dương.
Điện thoại các loại và linh kiện
Xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện trong tháng 3/2016 đạt 3,09 tỷ USD, tăng 31% so với tháng trước, nâng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong quý 1 lên 7,77 tỷ USD, giảm 6,1% so với cùng kỳ.
Những đối tác chính nhập khẩu điện thoại các loại và linh kiện của Việt Nam trong 3 tháng qua bao gồm: EU với 2,38 tỷ USD, giảm gần 6,1% và chiếm 30,6% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất đạt gần 901 triệu USD, giảm 19,9%; Hàn Quốc đạt 755 triệu USD, tăng 32,8%; Hoa Kỳ đạt 620 triệu USD, giảm 43%... so với cùng kỳ năm 2016.
Hàng dệt may
Xuất khẩu trong tháng đạt 2,1 tỷ USD, tăng mạnh 51,6% so với tháng trước, qua đó nâng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 3 tháng năm 2017 lên 5,62 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ.
Trong 3 tháng qua, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ đạt 2,72 tỷ USD, tăng 8,1 %; sang EU đạt 733 triệu USD, tăng 6,6%; sang Nhật Bản đạt 715 triệu USD, tăng 12,4% và sang Hàn Quốc đạt 617 triệu USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm 2016.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
Xuất khẩu máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện trong tháng 3/2017 đạt mức cao nhất từ trước tới nay với kim ngạch là 2,19 tỷ USD, tăng 27,5% so với tháng trước. Qua đó nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của 3 tháng lên 5,52 tỷ USD, tăng cao 47,8% so với cùng kỳ.
Trung Quốc vẫn là đối tác lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong 3 tháng qua với kim ngạch đạt 1,37 tỷ USD, tăng cao 123,5%; tiếp theo là EU đạt 1,04 tỷ USD, tăng 12,3%. Tính riêng xuất khẩu sang 2 thị trường này chiếm đến 44% tổng kim ngạch xuất khẩu máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện của cả nước.
Giầy dép
Xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt hơn 1,09 tỷ USD, tăng 26,6% so với tháng trước. Qua đó, đưa kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong quý 1/2017 đạt gần 3,12 tỷ USD, tăng 11,9% so với tháng trước.
Các thị trường nhập khẩu giầy dép các loại của Việt Nam chủ yếu gồm: thị trường Hoa Kỳ với 1,07 tỷ USD, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước; thị trường EU (28 nước) đạt 988 triệu USD, tăng 9,9%; thị trường Trung Quốc đạt 240 triệu USD, tăng 28,5%;…
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
Đạt kim ngạch xuất khẩu trong tháng gần 1,13 tỷ USD, tăng 24,3% so với tháng trước, đưa kim ngạch xuất khẩu cả quý là gần 2,91 tỷ USD, tăng 37,5% so với cùng kỳ năm trước.
Các thị trường nhập khẩu máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng khác của Việt Nam chủ yếu gồm: thị trường Hoa Kỳ với 602 triệu USD, tăng 26,7%; thị trường Nhật Bản đạt 402 triệu USD, tăng 14,5%; thị trường Trung Quốc với 370 triệu USD, tăng 85,6%;…
Hàng nông sản
Xuất khẩu hàng nông sản (bao gồm các nhóm hàng hàng rau quả, hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo, sắn và các sản phẩm từ sắn) trong tháng 3/2017 đạt 1,59 tỷ USD, đưa kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản trong quý 1/2017 đạt 3,94 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước.
Các thị trường nhập khẩu hàng nông sản của Việt Nam chủ yếu gồm: Thị trường Trung Quốc với 1,47 tỷ USD, tăng 27,6% so với cùng kỳ năm trước; thị trường EU (28 nước) với 748 triệu USD, tăng 24,8%; thị trường Hoa Kỳ với 457 triệu USD, tăng 23,5%; thị trường ASEAN với 371 triệu USD, giảm 17,5%...
Trong đó, xuất khẩu rau quả mang về 701 triệu USD, tăng 29,8%; hạt điều đạt 515 triệu USD, tăng 16,9%; cà phê đạt 1,03 tỷ USD, tăng 27,5%; gạo đạt 565 triệu USD, giảm 17,3%; cao su đem về 511 triệu USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ.
Hàng thủy sản
Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tháng 3 đạt 603 triệu USD, tăng 41,6% tháng trước, qua đó nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong quý 1 lên 1,51 tỷ USD, tăng 7,9% so với cùng kỳ.
Tính đến hết tháng 3, hàng thủy sản của Việt Nam tăng trưởng ở hầu hết các thị trường chính trừ thị trường Hoa Kỳ. Cụ thể, xuất sang Nhật Bản đạt 253 triệu USD, tăng 29,3%; Hoa Kỳ đạt 251 triệu USD, giảm 14,4%, sang Liên minh Châu Âu (EU) đạt 249 triệu USD, tăng 2,3%...
Ngoài ra, danh sách 10 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất quý 1 còn có cà phê với giá trị xuất khẩu 1,02 tỷ USD; Gỗ và các sản phẩm từ gỗ mang về 1,78 tỷ USD; Phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,51 tỷ USD; xơ sợi dệt các loại đạt 780 triệu USD...
Với lượng xuất khẩu giảm mạnh, dầu thô đã trượt khỏi danh sách 10 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Cụ thể, quý 1, lượng dầu thô xuất khẩu của cả nước đạt 1,52 triệu tấn, giảm 16,2% và kim ngạch đạt 637 triệu USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ.
Dầu thô của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 704 nghìn tấn, giảm 39,8%; Nhật Bản là 237 nghìn tấn, tăng 206,9%; sang Singapore là 193 nghìn tấn...
Đáng chú ý, theo báo cáo của Tổng cục Hải quan, trong quý 1, 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam đạt hơn 35,5 tỷ USD chiếm 79,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Từ những công việc vốn được xem là dành cho nam giới, phụ nữ tại làng nghề gỗ La Xuyên đang ngày càng khẳng định tay nghề trong từng đường đục, nét chạm. Trong khi đó, Vạn Điểm tìm hướng phát triển mới bằng đổi mới sản phẩm, ứng dụng công nghệ, mở rộng thị trường và tận dụng phụ phẩm gỗ, từng bước hình thành chuỗi sản xuất theo hướng kinh tế xanh, tuần hoàn.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.
Xuất khẩu rau quả Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh trong năm 2026 khi kim ngạch 8 tháng đầu năm đạt gần 5,87 tỷ USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước. Với động lực từ sầu riêng cùng nhiều mặt hàng trái cây chủ lực khác, ngành rau quả đang đứng trước cơ hội tiến gần mục tiêu 9,5-10 tỷ USD trong cả năm.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã coi trọng việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ cách đây gần 80 năm, còn Việt Nam mới chỉ bắt đầu công cuộc này cách đây một phần tư thế kỷ. Vì vậy, vẫn còn rất nhiều việc cần làm để phát huy tối đa vai trò của khu vực này, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.
Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Ngành Thống kê Việt Nam (6/5/1946 - 6/5/2026), Cục Thống kê công bố cuốn sách “Cấu trúc kinh tế Việt Nam 40 năm đổi mới (1986-2025)”. Đáng chú ý, lần đầu tiên một số liệu quan trọng về tương quan giữa GDP sản xuất và GDP sử dụng được công bố, qua đó cho thấy những kết quả tích cực của nền kinh tế, đồng thời đặt ra không ít vấn đề cần tiếp tục phân tích.
Các thành phố lớn tại Việt Nam đang đối mặt với tình trạng “đô thị nén”, mật độ xây dựng cao, thiếu không gian mở và cây xanh. Điều này làm suy giảm khả năng thông gió tự nhiên, gia tăng hiện tượng đảo nhiệt đô thị và khiến con người ngày càng phụ thuộc vào hệ thống điều hòa…
Thay đổi từ tư duy bồi thường thiệt hại về đất sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi. Câu chuyện tái thiết sinh kế, việc làm, thu nhập cho người bị thu hồi đất là vấn đề trọng tậm cần được tập trung giải quyết.