Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài Chính) công bố sáng 5/7/2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trong quý 2/2025 ước tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,3%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, IIP ước tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 tăng 8,0%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,1% (cùng kỳ năm 2024 tăng 8,9%), đóng góp 9,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,5% (cùng kỳ năm 2024 tăng 12,8%), đóng góp 0,4 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,3% (cùng kỳ năm 2024 tăng 6,4%), đóng góp 0,2 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 3,0% (cùng kỳ năm 2024 giảm 6,0%), làm giảm 0,5 điểm phần trăm.
Báo cáo của Cục Thống kê cho biết trong 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số sản xuất của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước, gồm: Sản xuất xe có động cơ tăng 31,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 17,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 17,0%; sản xuất trang phục tăng 15,1%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 14,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 13,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 11,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 11,7%; sản xuất kim loại tăng 11,0%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,8%.
Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất đồ uống tăng 1,9%; sản xuất thiết bị điện tăng 1,1%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 8,2%.
Về chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước, báo cáo của Cục Thống kê ghi nhận tăng ở 62 địa phương, riêng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 2,6%. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao.
Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp hoặc giảm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.
Trong 6 tháng đầu năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ năm trước, gồm: ô tô tăng 70,2%; ti vi tăng 21,9%; phân hỗn hợp NPK tăng 18,9%; khí hóa lỏng LPG tăng 16,9%; quần áo mặc thường tăng 14,9%; xi măng tăng 14,8%; giày, dép da tăng 14,3%; thép thanh, thép góc tăng 13,9%; đường kính tăng 12,8%.
Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước là khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 12,3%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 4,9%; dầu mỏ thô khai thác giảm 3,9%.
Về chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2025, báo cáo cho biết tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2024 (cùng kỳ năm 2024 tăng 10,8%).
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/6/2025 tăng 6,7% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 12,0% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 9,6%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân sáu tháng đầu năm 2025 là 85,7% (bình quân cùng kỳ năm 2024 là 76,9%).
Liên quan đến số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp, báo cáo ghi nhận tại thời điểm 01/6/2025 tăng 1,2% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 4,7% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,2% và giảm 0,1%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,7% và tăng 3,1%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,6% và tăng 5,8%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,5% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 0,3% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,3% và tăng 5,1%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đều tăng 0,1% và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,3% và tăng 1,5%.
Sau 6 kỳ tăng liên tiếp, giá các mặt hàng xăng và dầu điêzen trong nước đã đồng loạt quay đầu giảm từ chiều 15/10, trong đó xăng E10RON95 giảm mạnh nhất tới 1.225 đồng/lít. Ngược lại, mặt hàng dầu madút 180CST 3.5S tăng 1.043 đồng/kg…
Việt Nam sẵn sàng cùng Hoa Kỳ và cộng đồng doanh nghiệp hai nước tiếp tục hợp thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư phát triển mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, bền vững hơn vì một tương lai cùng hợp tác và cùng phát triển...
Gỗ và sản phẩm gỗ là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, những vướng mắc trong xác định nguồn gốc gỗ rừng trồng nhập khẩu, phân loại gỗ sơ chế và xử lý thuế VAT đang khiến doanh nghiệp phát sinh chi phí, tồn đọng vốn và gặp khó trong kế hoạch sản xuất...
Dù gặp nhiều rào cản, niềm tin của doanh nghiệp châu Âu vào tương lai Việt Nam vẫn vững chắc, khi 90% sẵn sàng giới thiệu nơi đây là điểm đến đầu tư...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu toàn hệ thống chính trị tập trung cao độ, quyết liệt triển khai các giải pháp chống khai thác IUU, thực hiện nghiêm “5 không”, quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC) trong năm 2026, gắn với phát triển ngành thủy sản bền vững...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.