Ngày 26/7/2013, Ngân hàng Nhà nước tổ chức lễ khai trương hoạt động Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Việc xử lý nợ xấu có thêm một công cụ đặc thù.
Phát biểu tại sự kiện trên, Thống đốc Nguyễn Văn Bình gián tiếp đưa ra lý giải cho quá trình chuẩn bị phải kéo dài thời gian qua, gắn với tính đặc thù và phức tạp của mô hình VAMC.
Trên thế giới có nhiều mô hình công ty quản lý tài sản, đa dạng giữa các nước, đa dạng giữa các hình thức và giữa các thời kỳ khác nhau. Nhưng có nét đặc trưng chung, khi nền kinh tế gặp khó khăn và nợ xấu gia tăng trong hệ thống các tổ chức tín dụng, thì công ty này được xây dựng và hình thành.
“Kinh nghiệm của các nước thì cũng có nhiều nước thành công và công ty này trở thành công cụ hữu ích cho quá trình cải cách kinh tế, khôi phục lại sự lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng, nhưng cũng không ít mô hình đã thất bại. Do vậy đòi hỏi chúng ta phải có những bước đi hết sức thận trọng, khôn khéo và phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam”, Thống đốc Bình nói.
Tại Việt Nam, VAMC mặc dù chỉ dưới dạng một công ty nhưng Chính phủ đã có hẳn một nghị định riêng để quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn. Theo Thống đốc, điều đó cho thấy tính chất đặc thù, phức tạp trong hoạt động, trong khi kinh nghiệm chưa có, mà cả ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng và nhiều bộ ban ngành, dư luận xã hội đều trông chờ vào hiệu quả của công ty này.
Tuy nhiên, người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh: “Chúng ta phải khẳng định VAMC không phải là “chiếc đũa thần” để có nó mà hết nợ xấu, hay xử lý được triệt để nợ xấu. Chúng tôi chỉ có thể nói rằng đây là thêm một công cụ để góp phần với nhiều công cụ khác để xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tình hình tài chính của các ngân hàng, góp phần tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển kinh tế. Chúng ta chỉ dừng lại ở góc độ khiêm tốn đó thôi”.
Chỉ dừng lại ở góc độ khiêm tốn là một công cụ, nhưng trách nhiệm lại rất lớn. Bên cạnh yêu cầu công khai, minh bạch để Ngân hàng Nhà nước, các ban ngành liên quan và cả xã hội giám sát, hiệu quả hoạt động của VAMC cũng được Thống đốc Bình yêu cầu cập nhật từng bước để đánh giá cụ thể.
Trước mắt, VAMC phải làm sao trong một giai đoạn nhất định phát huy được tác dụng, góp phần xử lý được nợ xấu một cách đáng kể, trên cơ sở đó tạo điều kiện tài chính thuận lợi cho các doanh nghiệp còn có khả năng phá triển nếu như được xử lý thông qua công ty này; góp phần khôi phục lại sự phát triển của nền kinh tế mạnh hơn nhưng bền vững hơn.
“Với bước đi phù hợp, chúng tôi hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng, với đội ngũ cán bộ được lựa chọn hết sức kỹ lưỡng trong hệ thống các tổ chức tín dụng, với sự chỉ đạo sát sao của Ngân hàng Nhà nước, sự quan tâm, hỗ trợ và giám sát của các cơ quan có liên quan, với sự đồng tình ủng hộ của dư luận xã hội, thì VAMC sẽ phát huy được vai trò tích cực của mình trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế hiện nay, góp phần khôi phục sự phát triển của nền kinh tế, và hướng tới mục tiêu đến năm 2015 là đưa nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng về mức kiểm soát được theo đúng quy định của pháp luật”, Thống đốc Nguyễn Văn Bình nói.
Như vậy, từ thời điểm này, việc xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam đã có thêm một công cụ hỗ trợ. Dù “chỉ dừng lại ở góc độ khiêm tốn”, song trong tài liệu công bố mới đây của Cơ quan Thanh tra giám sát (Ngân hàng Nhà nước) có nêu một dự tính rằng, với các cơ chế hoạt động, một số quyền hạn đặc thù, sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan, VAMC sẽ đẩy nhanh quá trình xử lý nợ và tài sản bảo đảm, thu hồi vốn cho các tổ chức tín dụng.
Trước đó, trong một bản giải trình thông tin liên quan, Ngân hàng Nhà nước dự kiến công ty này sẽ xử lý được khoảng 80 - 100 nghìn tỷ đồng nợ xấu với tỷ lệ thu hồi dự kiến là 20% - 40%.
Ngoài ra, theo Cơ quan Thanh tra giám sát, VAMC không chỉ xử lý nợ cho ngân hàng mà còn hỗ trợ, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp, khách hàng vay vốn. Một nhóm các biện pháp xử lý nợ của công ty này được thiết kế để hỗ trợ, giảm khó khăn cho doanh nghiệp như: điều chỉnh kỳ hạn trả nợ; giảm hoặc miễn toàn bộ số lãi đã quá hạn thanh toán; đầu tư, cung cấp tài chính để hỗ trợ khách hàng vay xử lý khó khăn tài chính tạm thời... Các khách hàng có nợ xấu bán cho VAMC sẽ được tiếp tục vay vốn của tổ chức tín dụng theo quy định hiện hành.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa giải thích những thông tin phản ánh chưa đúng các quy định tại dự thảo Thông tư về trình tự, thủ tục giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng...
Để thanh toán QR xuyên biên giới phát triển theo chiều rộng và đi vào chiều sâu, kết nối hạ tầng mới chỉ là bước đầu; yêu cầu tiếp theo là mở rộng điểm chấp nhận, gia tăng giao dịch và tạo giá trị cho nền kinh tế. a/b lược ghi ý kiến của cơ quan quản lý và các thành viên thị trường tại Hội thảo “Thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới qua mã QR: Động lực mới cho bán lẻ và du lịch” về định hướng và giải pháp thúc đẩy phương thức thanh toán này trong thời gian tới.
Việt Nam hiện đã hoàn tất kết nối thanh toán QR xuyên biên giới với 6 quốc gia trong khu vực và châu Á, đang triển khai kết nối với Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ và tiếp tục triển khai mở rộng dịch vụ với các quốc gia khác trong thời gian tới.
Khi thanh toán QR xuyên biên giới ngày càng mở rộng, bài toán không còn dừng ở việc kết nối thêm bao nhiêu quốc gia mà ở khả năng biến một thao tác quét mã đơn giản thành sức mua, doanh thu cho doanh nghiệp và dòng tiền minh bạch cho nền kinh tế. Muốn vậy, hệ sinh thái cần chuyển từ “kết nối được” sang “sử dụng được và sử dụng hiệu quả”.
Đại diện cơ quan quản lý và thành viên thị trường đề xuất thí điểm mô hình xã hội hóa, đưa thanh toán QR xuyên biên giới vào các khu vực tập trung đông du khách quốc tế như phố đi bộ, phố ẩm thực, chợ đêm, làng nghề và khu kinh tế đêm. Từ đó, hình thành các “tuyến phố thanh toán số” thông suốt, liền mạch, thúc đẩy chi tiêu của du khách nước ngoài...
Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, khả năng Việt Nam trở lại với trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của giới đầu tư.