
Đây là điểm mới tại Thông tư quy định yêu cầu đối với các sản phẩm sữa tươi sử dụng trong Chương trình Sữa học đường vừa được Bộ Y tế ban hành ngày 5/12.
Thông tư này áp dụng đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh các sản phẩm sữa tươi.
Theo đó, các sản phẩm sữa tươi sử dụng trong Chương trình Sữa học đường, bao gồm sữa tươi nguyên chất tiệt trùng và sữa tươi tiệt trùng phải đáp ứng các quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các sản phẩm sữa dạng lỏng QCVN 5-1:2010/BYT.
Về yêu cầu đối với vi chất dinh dưỡng trong các sản phẩm sữa tươi sử dụng trong chương trình phải đảm bảo đủ 21 vi chất dinh dưỡng với hàm lượng như sau:
Bảng 21 vi chất dinh dưỡng.
Nguyên liệu đầu vào của các sản phẩm sữa tươi cũng phải đảm bảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sữa tươi nguyên liệu ban hành kèm theo Thông tư số 29/2017/TT-BNNPTNT.
Đặc biệt, sản phẩm sữa tươi sử dụng trong chương trình phải được cơ sở sản xuất, kinh doanh công bố trước khi đưa lưu thông trên thị trường theo quy định.
Việc ghi nhãn sản phẩm được thực hiện theo Nghị định số 43/2017/NĐ-CP về ghi nhãn hàng hóa và Quyết định số 1783/QĐ-BYT về việc phê duyệt logo cho sản phẩm phục vụ chương trình Sữa học đường.
Thông tư sẽ có hiệu lực từ ngày 20/1/2020. Tuy nhiên, đối với các sản phẩm sữa tươi sử dụng trong chương trình mà các địa phương đã đấu thầu (tính từ thời điểm mở thầu) cung cấp cho các trường mẫu giáo và tiểu học trước ngày thông tư có hiệu lực thì được sử dụng cho đến hết số lượng theo hợp đồng đã và sẽ ký kết.
Tương tự, với nhãn sản phẩm sữa tươi sử dụng trong chương trình đã sản xuất, nhập khẩu, lưu thông trước ngày thông tư có hiệu lực thì được tiếp tục sử dụng nhãn cho đến khi hết hạn sử dụng ghi trên sản phẩm
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh các sản phẩm sữa tươi trên đây có trách nhiệm kê khai số lượng nhãn và báo cáo về Bộ Y tế trước ngày thông tư có hiệu lực.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa công bố danh sách 37 cơ sở kiểm nghiệm được Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) chấp nhận thực hiện phân tích chỉ tiêu Cadimi (Cd) và chất Vàng O đối với quả tươi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc...
Dù xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2026 đạt 266,5 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước, song ngoại thương Việt Nam đang phải đối mặt với những rào cản địa chính trị phức tạp. Để góp phần hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số, toàn hệ thống xuất nhập khẩu đang chuyển từ thế phòng ngự sang chủ động thích ứng, tìm kiếm giải pháp từ các thị trường chiến lược…
Những nỗ lực tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy mạnh cải cách hệ thống và hoàn thiện hành lang pháp lý đều hướng tới mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và tạo động lực phát triển bền vững cho ngành điện...
Trước Quy định chống mất rừng của EU (EUDR), ngành cao su Việt Nam đang chủ động chuyển dịch từ “chờ đợi” sang hành động quyết liệt. Việc đẩy mạnh chuẩn hóa vùng trồng và truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp vượt qua rào cản kỹ thuật mà còn là cơ hội để bứt phá giá trị tại thị trường EU.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu nhiều loại vật tư đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu thu hẹp, trong đó phân bón giảm gần 35%, thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 5,6%. Dù giá ngô và đậu tương thế giới hạ nhiệt, giá vật tư trong nước vẫn neo ở mức cao. Đáng chú ý, giá cám gạo nội địa tiếp tục tăng vì nguồn cung hạn chế…
Bước vào 6 tháng cuối năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi tăng trưởng GDP nửa đầu năm đạt mức ấn tượng 8,18%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đầy tham vọng, nền kinh tế phải đối mặt với không ít áp lực từ xu hướng nhập siêu, áp lực lạm phát và điểm nghẽn giải ngân đầu tư công.
Việt Nam đang từng bước làm chủ công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ; phát triển các dược chất phóng xạ thế hệ mới để chẩn đoán và điều trị ung thư, hướng đến phục vụ cộng đồng, người bệnh... Đó là hai trong số rất nhiều hạng mục mà Việt Nam đang nỗ lực trong công cuộc xây dựng nền công nghiệp hạt nhân hiện đại.