
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 2 ước tính giảm mạnh 21,3% so với tháng trước và giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do tháng 2 năm nay là tháng Tết Nguyên đán, có số ngày nghỉ nhiều.
Tuy nhiên, tính chung 2 tháng đầu năm thì chỉ số sản xuất công nghiệp vẫn tăng 6,8% so cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,8% (cùng kỳ năm 2012 tăng 7,7%); công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,9% (cùng kỳ năm 2012 tăng 6,7%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,7% (cùng kỳ năm 2012 tăng 11,7%) và ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải 9,9%.
Đóng góp vào mức tăng chung 6,8% của hai tháng đầu năm, ngành công nghiệp khai thác đóng góp 0,4 điểm phần trăm, ngành công nghiệp chế biến, chế (5,5 điểm phần trăm), ngành sản xuất và phân phối điện (0,8 điểm phần trăm) và ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải (0,1 điểm phần trăm).
Một số ngành công nghiệp có mức sản xuất hai tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước là sản xuất pin và ắc qui tăng 107,1%; sản xuất thiết bị điện tăng 51,3%; sản xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ tăng 45,9%; sản xuất phân bón và hợp chất nitơ tăng 43,3%; sản xuất giày, dép tăng 35,9%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 26,4%; sản xuất xi măng tăng 19,4%; sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục) tăng 18,9%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 18,6%; sản xuất bia tăng 14,5%; sản xuất đường tăng 14,1%.
Một số ngành công nghiệp có mức tăng khá là sản xuất, truyền tải và phân phối điện tăng 11,7%, sản xuất các cấu kiện kim loại tăng 11,5%; thu gom rác thải không độc hại tăng 10,8%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 9,4%.
Trong khi đó, những ngành có mức tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất dây, cáp điện tăng 6,9%; khai thác khí đốt tự nhiên tăng 6,9%; sản xuất sợi tăng 4,4%; khai thác dầu thô tăng 3,3%; chế biến và bảo quản thủy sản tăng 2,5%; sản xuất giấy và bìa tăng 2,4%; sản xuất sắt, thép, gang giảm 1,3%;…
Về phương diện địa phương, chỉ số sản xuất công nghiệp hai tháng đầu năm 2013 so với cùng kỳ năm 2012 của một số tỉnh, thành phố có quy mô công nghiệp lớn như sau: Tp.HCM tăng 3,2%; Đồng Nai tăng 7,6%; Bình Dương tăng 3,7%; Hà Nội tăng 4,5%; Hải Phòng tăng 2,9%; Bắc Ninh tăng 10,2%; Vĩnh Phúc tăng 11,5%; Cần Thơ tăng 0,8%; Hải Dương tăng 9,5%; Đà Nẵng tăng 10,7%;…
Về chỉ số tồn kho tại thời điểm 1/2/2013 đã tăng 19,9% so với cùng thời điểm năm trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng thời điểm năm trước là sản xuất xe có động cơ tăng 142,5%; sản xuất dây, cáp điện tăng 64,1%; sản xuất các cấu kiện kim loại tăng 62%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 60,1%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 58,1%; sản xuất bia tăng 49,4%; sản xuất thuốc lá tăng 49%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 28,6%; may trang phục tăng 27%;...
Ở chiều ngược lại, sản xuất pin, ắc quy giảm 38,6%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 62,9%.
Các đại biểu cho rằng, phân loại cấp độ rủi ro là công cụ quan trọng để xác định mức độ bảo vệ phù hợp, do đó đề nghị Ban soạn thảo quy định rõ tiêu chí phân loại rủi ro an ninh dữ liệu, phương pháp đánh giá và chủ thể chịu trách nhiệm, tiêu chí phân cấp phải rõ, kiểm chứng được và áp dụng thống nhất…
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 10 trưa ngày 4/11, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong cho biết tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng đầu năm tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực, các nguồn lực phát triển được khơi thông. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng quý 4 trên 12,5% đặt ra thách thức lớn, đòi hỏi tập trung triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp trong hai tháng cuối năm.
Thảo luận dự án Luật Điện lực sửa đổi, các đại biểu Quốc hội tập trung đề xuất cơ chế đặc thù cho điện sinh khối, hoàn thiện pháp lý điện mặt trời mái nhà cùng cơ chế chia sẻ rủi ro điện gió ngoài khơi, nhằm tháo gỡ điểm nghẽn và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia…
Sáng 3/11, tại Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội đàm với Chủ tịch Quốc hội Lào Sonexay Siphandone. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác nghị viện, phối hợp giám sát thực hiện các thỏa thuận cấp cao, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư tương xứng với quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào.
Tại cuộc hội kiến Chủ tịch Quốc hội Lào Sonexay Siphandone, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu cụ thể hóa các cam kết cấp cao thành chương trình, dự án thiết thực; tạo đột phá trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước.
Chuyển đổi xanh ngành lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ đòi hỏi giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo mà còn phải bảo đảm sinh kế và phân chia lợi ích công bằng. Dự án GORICE hướng tới phát triển chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, đồng thời trao quyền cho phụ nữ, người dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế tham gia, hưởng lợi bình đẳng.
Gắn kết vùng nguyên liệu với doanh nghiệp thông qua việc thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, kết nối cơ sở sản xuất với doanh nghiệp đầu chuỗi, kênh phân phối và thị trường tiêu thụ... là định hướng chung được Chính phủ xác định. Mô hình liên kết này đang mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân, doanh nghiệp.