Trong 105 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới có số liệu so sánh, có tới 78 nước và vùng lãnh thổ có tỷ trọng dịch vụ/GDP chiếm trên 50%, trong đó hầu hết là những nước phát triển, thu nhập cao. Điều đó chứng tỏ vai trò của dịch vụ đối với sự phát triển của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam rất quan trọng.
Ngày nay, với nhận thức mới về vai trò của dịch vụ, nhóm ngành dịch vụ của Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Nhóm ngành dịch vụ góp phần giải quyết công ăn việc làm khi tỷ trọng lao động của nhóm ngành dịch vụ trong tổng số lao động đã tăng lên so với trước đây (biểu đồ 1).
Tỷ trọng lao động nhóm ngành dịch vụ ngày càng có nhịp độ tăng nhanh hơn, bắt đầu từ năm 2015 đã chiếm 1/3 tổng số lao động và năm 2019 tới nay nhóm ngành này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong 3 nhóm ngành. Đây không chỉ là vấn đề công ăn việc làm, mà còn góp phần nâng cao tính năng động của nền kinh tế và góp phần hình thành, phát triển thị trường lao động, tăng tính thị trường của kinh tế Việt Nam; không chỉ đối với kinh tế thực, mà cả kinh tế dịch vụ, không chỉ kinh tế mà cả một số lĩnh vực xã hội khác.
Trong các ngành cụ thể của nhóm ngành dịch vụ, ngành có số lao động đông nhất là thương mại (bán buôn, bán lẻ,…), tiếp đến là dịch vụ lưu trú, ăn uống, giáo dục - đào tạo, vận tải kho bãi, hoạt động của Đảng, tổ chức xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc, hoạt động dịch vụ khác, y tế và hoạt động trợ giúp xã hội, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ, hoạt động chuyên môn và khoa học công nghệ, kinh doanh bất động sản, nghệ thuật, vui chơi, giải trí, hoạt động làm thuê, dịch vụ tự tiêu dùng, hoạt động của các tổ chức, cơ quan quốc tế.
Tỷ trọng vốn đầu tư cho nhóm ngành dịch vụ có xu hướng cao lên qua các năm (biểu đồ 2).
Từ năm 2015, tỷ trọng vốn đầu tư cho nhóm ngành dịch vụ đã vượt lên lớn nhất trong 3 nhóm ngành và từ năm 2018, tỷ trọng vốn vào nhóm ngành này lớn hơn tổng của cả 2 nhóm ngành còn lại.
Trong nhóm ngành dịch vụ, lượng vốn lớn nhất là Hoạt động dịch vụ khác, tiếp đến là vận tải, kho bãi, thương mại, kinh doanh bất động sản,…
Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong khu vực doanh nghiệp, năm 2020, nhóm ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng cao hơn 2 nhóm ngành còn lại về số doanh nghiệp (66,7%), vốn sản xuất kinh doanh (66%), giá trị TSCĐ và đầu tư tài chính dài hạn (53,7%), đồng thời chiếm tỷ trọng cao về các chỉ tiêu còn lại (doanh thu thuần: 49,3%, lợi nhuận trước thuế: 41,8%, thu nhập của người lao động: 38,9% và số lao động: 37,1%) .
Tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP đã có xu hướng cao lên, đạt đỉnh vào 5 năm trước đại dịch (năm 2015: 42,19%, 2016: 42,85%, 2017: 42,58%, 2018: 42,17%. 2019: 42,47%), chỉ bị giảm xuống vào 2 năm đại dịch xảy ra và bùng phát (năm 2019: 41,83%, 2021: 41,21%), trong đó có nhiều ngành cụ thể còn giảm nhiều hơn, như vận tải kho bãi, dịch vụ lưu trú, ăn uống,… Tỷ trọng dịch vụ trong GDP đã hồi phục trở lại vào năm 2022 (đạt 41,33%), trong đó có một số ngành cụ thể phục hồi nhanh hơn, như thương mại, vận tải kho bãi, dịch vụ lưu trú ăn uống, nghệ thuật vui chơi giải trí,…
Tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP tăng chủ yếu do tốc độ tăng GDP nhóm ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng chung. Cụ thể, các năm 2015, 2016, 2017, 2019 nhóm ngành dịch vụ tăng tương ứng: 7,05%, 7,46%, 7,12%, 8,08%. Khi đại dịch lan tới và bùng phát, nhóm ngành này đã tăng chậm lại ở mức thấp nhất trong 3 nhóm ngành (năm 2020: 2,01%, 2021: 1,57%). Đến năm 2022, khi đại dịch đã được kiểm soát, nhóm ngành dịch vụ tăng cao nhất trong 3 nhóm ngành (đạt 9,99%), trong đó những ngành cụ thể tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nhóm ngành là: dịch vụ lưu trú, ăn uống, hoạt động hành chính, dịch vụ hỗ trợ, hoạt động dịch vụ khác, dịch vụ vui chơi giải trí, vận tải kho bãi,…
Tuy đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng nhóm ngành dịch vụ cũng còn những hạn chế và đứng trước không ít thách thức. Hạn chế rõ nhất là tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP của Việt Nam thuộc loại thấp so với khu vực, châu Á và thế giới.
Trong khu vực Đông Nam Á, năm 2020, tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Việt Nam thấp thứ 7 trong 11 nước, Việt Nam chỉ đứng ngang với Myanmar, đứng trên Brunei (41,5%), Lào (40,7%), Campuchia (36,6%) (biểu đồ 3).
Ở Châu Á, tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Việt Nam đứng thứ 27/35 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh ngoài 6 nước Đông Nam Á, còn thấp hơn Trung Quốc, Hồng Kông (TQ), Nhật Bản, Hàn Quốc, Arcmenia, Azerbaijan, Jordan, Kawait, Libani, Oman, Palestin, Ả Rập Xê út, Thổ Nhĩ Kỳ, Kazakhstan, Afganistan, Banglades, Ấn Độ, Iran, Nepan, Pakistan, Xrilanca.
Trên thế giới, tỷ trọng dịch vụ/GDP của Việt Nam đứng thứ 94/105 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh, ngoài 27 nước châu Á, còn có hầu hết các nước châu Âu, châu Úc, châu Mỹ và nhiều nước châu Phi.
Tỷ trọng dịch vụ/GDP của Việt Nam thấp so với nhiều nước do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do: (i) Việt Nam chuyển sang hoặc thực hiện cơ chế thị trường chậm hơn nhiều nước; (ii) tính chuyên nghiệp của dịch vụ đối với nhiều hoạt động còn thấp, còn dựa vào tự sản tự tiêu, còn do các cơ quan, đơn vị kiêm nhiệm nhiều hoạt động dịch vụ (đội xe, làm vệ sinh, bảo vệ,…); (iii) tỷ lệ lao động phi chính thức của nhóm ngành dịch vụ tuy có giảm xuống (năm 2017 là 64,5%, năm 2018 còn 62,9%, năm 2019 còn 61,7%), nhưng đều lớn hơn ở các nhóm ngành còn lại. Lao động phi chính thức không có bảo hiểm xã hội bắt buộc, công việc không ổn định, thu nhập cao thấp rất khác nhau và không ổn định, khó thống kê chính xác…
Quý vị độc giả có thể đặt mua ấn phẩm Kinh tế 2022-2023: Việt Nam và Thế giới tại đây.
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Lễ viếng, truy điệu hài cốt liệt sĩ được tìm kiếm, quy tập tại Công viên văn hóa Lê Thị Riêng sẽ diễn ra sáng 14/10. Sau lễ truy điệu, 731 bộ hài cốt liệt sĩ sẽ được đưa về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố....
Tại cuộc gặp gỡ các nhân sĩ hữu nghị Trung Quốc, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn mong muốn các tổ chức hữu nghị tích cực phối hợp với cơ quan, địa phương và doanh nghiệp hai nước tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, du lịch, giao lưu địa phương; thúc đẩy hợp tác thiết thực, mang lại lợi ích cụ thể cho nhân dân.
Doanh nghiệp không chỉ cần thêm chính sách, mà còn cần chính sách ổn định, quy định thông suốt, thời hạn giải quyết thủ tục minh bạch và cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng. Quan trọng nhất là một môi trường kinh doanh có thể dự báo được, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư, phát triển dài hạn...
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh doanh nhân phải dám nghĩ lớn, đặt tầm nhìn dài hạn cùng 4 trụ cột: nuôi dưỡng khát vọng, tôi luyện năng lực, đề cao trách nhiệm, tiên phong đổi mới để từng bước làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu...
Chuyến thăm chính thức Lào và Campuchia của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đạt nhiều kết quả quan trọng, thực chất, góp phần tháo gỡ khó khăn cho các dự án hợp tác, mở ra những lĩnh vực, dự án mới và tạo thêm động lực phát triển cho cả ba nước.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Tuyệt đối không để nền kinh tế thiếu điện và thiếu xăng dầu, đó là khẳng định từ Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi. Kịch bản tăng trưởng kinh tế 3 tháng cuối năm cũng được xác định rõ để từng bộ, từng địa phương đều hoàn thành kế hoạch của cả năm, đưa kinh tế cả nước đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.