Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ vẫn “lép vế” trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Đến nay có khoảng 30% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này cho thấy sự kết nối còn lỏng lẻo giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI...

Đến 2022, cả nước có khoảng 5.000 doanh nghiệp chế biến.
Đến 2022, cả nước có khoảng 5.000 doanh nghiệp chế biến.

Theo số liệu Bộ Công Thương mới cập nhật, hiện cả nước có khoảng 5.000 doanh nghiệp chế biến tham gia cung cấp linh kiện phụ tùng cho nhóm ngành hàng ô tô, cơ khí.

Trong đó, 70% doanh nghiệp tham gia cung cấp cho các nhà sản xuất trong nước và 8% cung cấp cho nhà xuất khẩu và 17% là tham gia cung cấp cho cả hai.

Xét theo từng ngành hàng, 64% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong ngành dệt may, da giày cung cấp cho thị trường trong nước (trong đó 3% cung cấp cho doanh nghiệp FDI), 9% xuất khẩu và 27% cung cấp cho cả hai thị trường.

Trong lĩnh vực cao su, nhựa, hoá chất, số doanh nghiệp cung cấp cho trường trong nước chiếm 52%, hoàn toàn cho xuất khẩu là 4%, 44% còn lại cung cấp cho cả hai thị trường.

Lĩnh vực điện tử có 44% doanh nghiệp cung cấp cho thị trường trong nước (trong đó 22% cung cấp hoàn toàn cho FDI), 16% cung cấp cho thị trường xuất khẩu và 40% số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của ngành cung cấp cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu.

Với ngành cơ khí, ô tô, 83% doanh nghiệp hoàn toàn cung cấp cho thị trường nội địa, chỉ có 3% doanh nghiệp có doanh thu hoàn toàn từ xuất khẩu và 14% doanh nghiệp có doanh thu từ cả hai thị trường.

Bộ Công Thương nhận định, nhìn một cách tổng quan, đến nay có khoảng 30% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này cho thấy sự kết nối giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI chưa chặt chẽ.

Ông Phạm Tuấn Anh, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương cho rằng mặc dù Chính phủ đã phối hợp với các tổ chức, doanh nghiệp triển khai các hoạt động tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa Việt Nam, tuy nhiên sự liên kết này còn lỏng lẻo.

Nguyên nhân của sự lỏng lẻo được đại diện Bộ Công Thương chỉ ra, do thực tế Việt Nam có ngành công nghiệp phát triển sau các nước khu vực 2-3 thế hệ, dung lượng thị trường nhỏ chưa đảm bảo quy mô công suất đối với sản phẩm công nghiệp để cạnh tranh về giá với thị trường khác.

Trong khi đó, dư địa để can thiệp bằng chính sách vào phát triển công nghiệp không còn nhiều do phải tuân thủ các cam kết quốc tế.

Ngoài ra, do tập quán kinh doanh của các doanh nghiệp toàn cầu thường sử dụng các doanh nghiệp đã từng cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trong chuỗi sản xuất của họ hoặc các doanh nghiệp cùng quốc tịch, ít tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc tham gia chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia.

Bên cạnh đó, nguồn lực xã hội chưa tập trung nhiều vào đầu tư sản xuất. Bởi khu vực sản xuất đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn dài hạn, trong khi nguồn lực xã hội đầu tư vào sản xuất rất hạn chế do thời gian thu hồi vốn chậm, lợi nhuận biên kém hấp dẫn so với đầu tư vào lĩnh vực khác như bất động sản, tài chính.

Nhìn từ góc độ doanh nghiệp và ngành thấy, nội lực của ngành công nghiệp nước ta còn hạn chế. Việt Nam chưa có doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt mang tính lan tỏa trong ngành công nghiệp.

Trình độ doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế. Công tác R&D (nghiên cứu và phát triển), phát triển sản phẩm mới chưa được quan tâm và thiếu nguồn vốn đầu tư.

Hơn nữa, trong công tác quản lý nhà nước, việc ban hành và bố trí các nguồn lực triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ còn chưa hiệu quả do mâu thuẫn chồng chéo của các luật ngành khác.

Vì vậy, để ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam tham gia sâu hơn, nhiều hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ông Phạm Tuấn Anh cho rằng, trong thời gian tới cần thúc đẩy tăng cường liên kết, nâng cao sự vững chắc trong chuỗi cung ứng cho những ngành sản xuất chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, điện tử, công nghiệp chế biến nông sản…

Chính sách cấp bù lãi suất theo Nghị quyết 115 (Chính phủ ban hành năm 2020) về các giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ là chính sách được nhiều doanh nghiệp trông đợi nhất.

“Nghị quyết nêu rõ: các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ và các sản phẩm cơ khí trọng điểm thì được hỗ trợ cấp bù chênh lệch lãi suất. Dự kiến tối đa mức bù đến 5%. Đây là vấn đề thực sự rất cần thiết và quan trọng đối với các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam”, đại diện Cục Công nghiệp cho biết.

Các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam đều được sự hỗ trợ rất lớn từ các tập đoàn mẹ hoặc các tổ chức tài chính của nước sở tại, lãi suất rất thấp. Trong khi đó, lãi suất trong nước của chúng ta rất cao. Nếu so sánh sự chênh lệch này, các doanh nghiệp Việt Nam đã thua ngay từ bước đầu tiên khi sử dụng vốn đầu tư để đầu tư dự án. Do đó, chính sách này được thực thi sẽ tạo cơ hội tốt cho doanh nghiệp vươn lên và cạnh tranh về giá.

Wellness: Phân khúc có giá trị gia tăng cao nhất của ngành du lịch

Năm 2025, quy mô thị trường du lịch wellness toàn cầu được định giá 990,4 tỷ USD. Năm 2026, dự kiến 1.085,6 tỷ USD. Năm 2035 dự kiến 2.400 tỷ USD. Thị trường châu Á - Thái Bình Dương có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm cao nhất... trong giai đoạn 2026 - 2035.

MSR: Đa dạng nguồn nguyên liệu để mở rộng quy mô chế biến

Với doanh nghiệp khai khoáng, lợi thế dài hạn không chỉ đến từ quy mô tài nguyên sở hữu, mà còn từ khả năng tạo thêm giá trị từ nguồn tài nguyên đó. Tại Masan High-Tech Materials (UPCoM: MSR), năng lực chế biến sâu đang mở rộng dư địa tăng trưởng khi doanh nghiệp có thể tiếp nhận nguyên liệu từ nhiều nguồn, sản xuất các sản phẩm có giá trị cao hơn và từng bước giảm sự phụ thuộc vào sản lượng của riêng mỏ Núi Pháo.

Ngành hồ tiêu trước áp lực nâng chuẩn chuỗi xuất khẩu

Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, việc tăng cường liên kết sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu quốc gia được xem là những giải pháp cấp thiết để nâng cao giá trị gia tăng cho ngành hàng hồ tiêu...

AAAP 2026: Thúc đẩy các giải pháp phát triển ngành chăn nuôi bền vững

Chăn nuôi bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu, giảm phát thải và ứng dụng công nghệ cao đang trở thành xu hướng tất yếu của ngành chăn nuôi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, AAAP 2026 tổ chức tại Việt Nam được kỳ vọng là diễn đàn kết nối các nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà quản lý và người chăn nuôi, thúc đẩy các giải pháp phát triển ngành theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững...

Bài toán giảm mục tiêu phát thải, duy trì năng lực cạnh tranh cho ngành xi măng

Xi măng và bê tông đóng vai trò thiết yếu đối với sản xuất, tuy nhiên sản xuất xi măng chiếm khoảng 7-8% lượng phát thải C02 toàn cầu, trở thành một trong các nguồn gây ô nhiễm lớn nhất hiện nay. Giải pháp giảm phát thải mà vẫn bảo đảm năng lực sản xuất, cạnh tranh cho doanh nghiệp... đang là bài toán nan giải.

Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy