
Nếu như việc chuyển sang học trực tuyến giữa đại dịch đã dẫn đến câu hỏi làm thế nào để bảo đảm chất lượng một cách nhanh chóng, thì giờ đây các cuộc thảo luận xoáy sâu hơn vào cách xác định nhu cầu thực sự của người học và dùng phản hồi của họ để cải thiện chất lượng.
Xu hướng trên đã được gần 800 chuyên gia, cán bộ quản lý và giảng viên thảo luận tại tọa đàm Bảo đảm chất lượng đào tạo trực tuyến giáo dục đại học tại Việt Nam diễn ra mới đây. Dựa trên trải nghiệm của các trường đại học và cơ quan quản lý giáo dục đại học ở Úc và Việt Nam, các chuyên gia đã chia sẻ một số bài học rút ra từ việc triển khai giáo dục trực tuyến, cũng như giáo dục kết hợp trực tuyến và trực tiếp trong thời gian vừa qua.
Đại diện Đại học RMIT, Đại học Deakin và Cơ quan Quản lý chất lượng và Tiêu chuẩn giáo dục đại học Úc (TEQSA) đều nhấn mạnh rằng trải nghiệm sinh viên trên môi trường trực tuyến không chỉ xoay quanh việc học. Trên tinh thần đó, giáo dục chất lượng cao phải đem đến trải nghiệm toàn diện cho sinh viên bất kể hình thức dạy và học là gì.
Giáo dục trực tuyến cũng thôi thúc giới học thuật suy nghĩ sáng tạo hơn về cách kiểm tra, đánh giá. Cách đánh giá năng lực từ bài tập, tình huống thực tế (thay vì các kỳ thi truyền thống) đã được áp dụng bởi nhiều trường đại học Úc.
Giáo sư Shona Leitch, lãnh đạo cấp cao phụ trách giáo dục của Đại học RMIT, nhận định: “Chúng ta cần lấy người học làm trung tâm khi cân nhắc mọi vấn đề, từ việc thiết kế nội dung môn học và môi trường học tập trực tuyến, đến cách đề ra kết quả học tập mong muốn, cũng như quá trình giảng dạy và công tác kiểm tra, đánh giá thực tế”.
Theo các chuyên gia, các cơ chế hỗ trợ người học cũng cần có trên nền tảng ảo. Đơn cử như tại Đại học RMIT, các dịch vụ sinh viên như thư viện, thể thao và giải trí, tư vấn sinh viên, hỗ trợ kỹ năng học tập, chăm sóc sức khỏe và tâm lý, hay tư vấn hướng nghiệp hiện đều có phiên bản trực tuyến. Một số dịch vụ thậm chí còn có thể tiếp cận 24/7.
“Nhà trường cũng khảo sát sinh viên xuyên suốt học kỳ và kiểm tra chất lượng mọi môn học. Từ đó, chúng tôi có thể hiệu chỉnh theo kỳ vọng của sinh viên, đồng thời đảm bảo rằng cán bộ giảng viên có đủ năng lực và hỗ trợ cần thiết để liên tục nâng cao chất lượng”, Giáo sư Leitch cho biết.
Theo chuyên gia bảo đảm chất lượng Tiến sĩ Nguyễn Hữu Cương, giáo dục trực tuyến cũng cần có tài liệu trực tuyến riêng để phục vụ công tác giảng dạy. “Đây là thách thức đối với nhiều cơ sở giáo dục Việt Nam, nhưng nếu muốn tiến xa họ sẽ cần nâng cấp thư viện số để cả giảng viên và sinh viên đều có thể truy cập các nguồn tài liệu trực tuyến chất lượng cao”, Tiến sĩ Cương nhận định.
Các chuyên gia nhất trí rằng không nên coi giáo dục trực tuyến là lựa chọn thứ cấp mà là yêu cầu thiết yếu hiện nay, và là yếu tố tồn tại bền vững trong giáo dục hiện đại tương lai. Tư duy như vậy sẽ giúp định hướng cho các kế hoạch hành động nâng cao chất lượng dạy và học trực tuyến.
Theo chuyên gia bảo đảm chất lượng Tiến sĩ Nguyễn Hữu Cương, các cơ sở giáo dục cần ưu tiên trang bị năng lực giảng dạy trực tuyến cho người dạy và kỹ năng học tập trực tuyến cho người học.
Giáo dục trực tuyến cũng thôi thúc giới học thuật suy nghĩ sáng tạo hơn về cách kiểm tra, đánh giá. Cách đánh giá năng lực từ bài tập, tình huống thực tế (thay vì các kỳ thi truyền thống) đã được áp dụng bởi nhiều trường đại học Úc...
Với mục tiêu hỗ trợ giáo dục trực tuyến, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt các Đề án phát triển đào tạo từ xa; Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các Quy chế đào tạo từ xa, Quy định đào tạo ứng với các trình độ Đại học và Tiến sĩ (cho phép đào tạo trực tuyến 30%), tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo từ xa, các đề án nghiên cứu khoa học, và các chỉ thị triển khai.
Theo Phó Giáo sư Phạm Văn Tuấn đến từ Đại học Đà Nẵng, những thành tố làm nên chất lượng trong học tập trực tuyến bao gồm chiến lược đào tạo trực tuyến của cơ sở giáo dục, phương pháp giảng dạy và học tập, kỹ thuật kiểm tra đánh giá người học phù hợp với đào tạo trực tuyến; cách phát triển nội dung học tập, chương trình bồi dưỡng phương pháp dạy học trực tuyến cho cán bộ giảng viên, phát triển kỹ năng công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ hỗ trợ công nghệ...
“Các cơ sở giáo dục cần xây dựng khung bảo đảm chất lượng học tập trực tuyến bao quát đầy đủ những yếu tố chất lượng đã được xác định, đồng thời đáp ứng các quy định của Nhà nước về giáo dục trực tuyến”, ông Tuấn nhấn mạnh.




Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2035” đây mục tiêu phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có tối thiểu 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu...
Theo Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Trương Minh Huy Vũ, để các nghiên cứu về AI tạo đi xa hơn nguyên mẫu, thành phố cần đặt ra những bài toán đủ lớn, gắn với nhu cầu thực tế và có nguồn lực cụ thể để cùng các nhóm nghiên cứu giải quyết…
Tỷ lệ nghỉ việc trên toàn cầu của Nvidia là 3,7%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 21,9% của ngành công nghệ...
Văn hóa không chỉ là những giá trị cần bảo tồn mà còn là nguồn lực hình thành IP Văn hóa, sản phẩm, thương hiệu và mô hình kinh doanh mới. Khi kết hợp cùng công nghệ số, AI và sở hữu trí tuệ, tài nguyên văn hóa sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế sáng tạo và nâng cao sức mạnh mềm Việt Nam…
Việt Nam đang có nhiều cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, việc tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và được xem như "chìa khóa" để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà khẳng định, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại sẽ tập trung đẩy mạnh các chương trình tín dụng, nhất là tín dụng với lãi suất ưu đãi cho các tế bào thực tăng trưởng của nền kinh tế và hướng tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa.