
Những khó khăn, thách thức, trăn trở này đã được đại diện lãnh đạo các tạp chí, chuyên gia báo chí thảo luận, tìm giải pháp tháo gỡ tại Hội thảo vấn đề kinh tế báo chí đối với các tạp chí khoa học của Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tổ chức ngày 27/6/2023.
Hiện nay, trong hệ thống Liên hiệp Hội có 71 cơ quan báo chí, trong đó có 1 tờ báo. Do đó, nói về kinh tế báo chí chính là bàn về kinh tế của các tạp chí thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam và những thách thức khó khăn cần phải tháo gỡ.
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, cho biết thời gian gần đây, khái niệm kinh tế báo chí được bàn thảo rất nhiều tại các diễn đàn báo chí. Theo ông Linh, kinh tế báo chí là một ngành kinh tế khá đặc biệt. Những sản phẩm báo chí là một sản phẩm hàng hóa rất đặc biệt và nếu đặt trong cơ chế thị trường cũng phải tuân thủ đầy đủ các quy luật của thị trường… Điều này đòi hỏi các cơ quan báo chí phải cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, hoạt động kinh tế đến đối tượng khách hàng.
Kinh tế báo chí, tự chủ tài chính là vấn đề đang rất “nóng”, một yêu cầu, xu thế phát triển nhưng cũng là khó khăn với các cơ quan báo chí trong đó có các tạp chí của Liên hiệp hội Việt Nam. Muốn tự chủ tài chính cần phải thực hiện các hoạt động phát triển kinh tế báo chí. Đây là hoạt động thích ứng với yêu cầu, đòi hỏi để tồn tại phát triển, ông Linh nói.
Hiện nay, hoạt động thu nhập của báo chí giảm dần, đặc biệt là hoạt động quảng cáo. Báo chí cũng đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt, giữa tạp chí với các tờ báo, giữa báo in với báo điện tử, giữa các hoạt động của báo chí với các trang tin trực tuyến...
Trước thách thức hiện nay, hoạt động kinh tế báo chí đòi hỏi cách làm như thế nào để thực hiện mục tiêu chính trị, đảm bảo doanh thu, lợi nhuận, duy trì hoạt động của tòa soạn?
Một số ý kiến phát biểu tại hội thảo cho rằng trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí, bên cạnh việc thay đổi tổ chức bộ máy, mô hình quản trị, còn phải tạo nguồn thu (không chỉ bán báo như trước đây mà thu từ quảng cáo số, kinh doanh trên môi trường số).
Theo nhà báo Nguyễn Thành Lợi, Tổng Biên tập báo Kinh tế Đô thị, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, trong nghiên cứu về kinh tế báo chí, mạng xã hội là lựa chọn tất yếu của sự phát triển kinh tế báo chí hiện đại.
Thực tế cho thấy thị phần quảng cáo và công chúng đang bị phân tán rất mạnh. Thị trường quảng cáo đang chuyển từ quảng cáo trên báo chí truyền thống sang quảng cáo số, gây sụt giảm đáng kể doanh thu của các cơ quan báo, đài.
Nếu như trước đây, báo chí có nội dung tốt sẽ có công chúng nhưng hiện nay có nội dung tốt chưa chắc đã có công chúng. Ông Lợi cho rằng trong bối cảnh hiện nay, nội dung là “vua” nhưng công nghệ là “nữ hoàng”. Điều này cho thấy trong kinh tế báo chí, nội dung là then chốt nhưng phải đồng hành cùng công nghệ. Nếu có nội dung tốt nhưng không có công nghệ, không có các lực đẩy nội dung lên đa nền tảng thì cũng không có công chúng.
Với sự cạnh tranh mạnh mẽ của các “thế lực” truyền thông xã hội, một cơ quan báo chí có nội dung tốt nhưng không có nền tảng công nghệ hiện đại, vẫn khó có thể thu hút được quảng cáo. Do vậy, báo chí cần phải thay đổi tư duy, coi trọng công nghệ làm báo hiện đại.
Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ là một thách thức lớn với các cơ quan báo chí khi nguồn lực hạn chế. Nhưng nếu không ứng dụng công nghệ mà làm theo cách truyền thống, các cơ quan báo chí sẽ tiếp tục loay hoay. Đây là bài toán đặt ra với các cơ quan báo chí, nhất là các tạp chí khoa học.
Trăn trở với vấn đề ứng dụng công nghệ và phát triển kinh tế báo chí, nhà báo Đào Quang Bính, Tổng giám đốc, Tổng Thư ký Tòa soạn Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy cho rằng cần xác định rõ nội hàm của chuyển đổi số báo chí. Nếu báo chí, chạy theo trào lưu của Google, Facebook thì tức là đã sa vào “bẫy” của các hãng công nghệ.
Nhà báo Đào Quang Bính nêu quan điểm, báo chí cần tận dụng các công nghệ số vào làm báo, đặc biệt là các tạp chí khoa học, nhưng làm báo vẫn truyền thống là coi nội dung là "Vua", còn công nghệ số chỉ là "tướng", không nên phát triển các tạp chí khoa học theo mô hình mạng xã hội.
Thực tế chuyển đổi Thời báo Kinh tế Việt Nam thành Tạp chí Kinh tế Việt Nam, theo nhà báo Đào Quang Bính, trong 6 tháng sau thời điểm tái xuất bản, Tạp chí Kinh tế Việt Nam đã xây dựng kế hoạch chuyển đổi số toàn diện trên tất cả phương diện, từ sản xuất nội dung tới phát hành và quản trị tòa soạn, dựa trên 5 trụ cột chính.
Thứ nhất, định hướng thống nhất quan điểm hoạt động nghiệp vụ trong lĩnh vực sản xuất nội dung.
Thứ hai, thực hiện tái cơ cấu tòa soạn thành Tòa soạn Hợp nhất.
Thứ ba, tập trung phát triển các sản phẩm nội dung thông tin và truyền thông kinh tế đa nền tảng.
Thứ tư, thực hiện quản trị số và ứng dụng công nghệ số cho tất cả các hoạt động của tòa soạn.
Thứ năm, thực hiện phát hành số tạp chí in và tiến tới “bán nội dung” theo dạng Subcription online.
Sau chuyển đổi và tái cơ cấu toà soạn, Tạp chí Kinh tế Việt Nam tập trung được nguồn lực vào đầu tư cho sản xuất nội dung chuyên sâu cho cả Tạp chí in, Vietnam Economic Times và VnEconomy (tạp chí điện tử). Bên cạnh những sản phẩm báo chí mới đặc thù, VnEconomy cũng tăng cường nội dung đa phương tiện cho các tác phẩm báo chí. Bên cạnh đó, chọn lọc một số nội dung để thực hiện bổ sung các nội dung đa phương tiện và phát hành trên nền tảng mạng xã hội như: Tiktok, Facebook, Linkedin và Youtube.
Để chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ, làm một tạp chí trong bối cảnh hiện nay rất cần kinh phí đầu tư. Tạp chí Kinh tế Việt Nam đã huy động toàn bộ nhân viên tham gia đóng góp kinh phí, cùng đầu tư vào công nghệ, cùng gắn bó và phát triển Tạp chí.
Chia sẻ các cách ứng dụng công nghệ trong tòa soạn và phát triển kinh tế báo chí, Nhà báo Đào Quang Bính cho biết, Tạp chí Kinh tế Việt Nam đã hình thành những nền tảng công nghệ số giúp các cơ quan báo chí làm kinh tế báo chí theo cách truyền thống. Với phương thức phát hành số, bên cạnh các bản in truyền thống, các ấn phẩm của Tạp chí Kinh tế Việt Nam sẽ được số hóa dưới dạng PDF (máy tính và cho mobile) và phát hành tới bạn đọc qua nền tảng Phát hành số của Công ty Phát hành báo chí Trung ương.
"Đây là hướng đi để các tờ báo in, tạp chí khoa học bán giá trị nội dung bài viết mà không mất chi phí in ấn. Khi các tờ báo, tạp chí in phát hành trên bản PDF sẽ thúc đẩy phát triển kinh doanh số, đồng thời thu hút được quảng cáo. Việc có số lượng đông đảo Subcribers cũng sẽ giúp Tạp chí Kinh tế Việt Nam và Vietnam Economic Times (tạp chí bằng tiếng Anh) có các quảng cáo từ các doanh nghiệp lớn cần quảng bá thương hiệu", Tổng Thư ký Tòa soạn Tạp chí Kinh tế Việt Nam nói.
Một điểm đáng chú ý liên quan đến ứng dụng công nghệ vào làm báo được lãnh đạo Tạp chí Kinh tế Việt Nam chia sẻ tại hội thảo là tháng 6/2023, VnEconomy đã chính thức đưa vào hoạt động thử nghiệm Askonomy, trợ lý thông tin kinh tế, xây dựng trên nền tảng Chat GPT và dữ liệu độc quyền của Tạp chí Kinh tế Việt Nam, với mục tiêu cung cấp các dữ liệu kinh tế vĩ mô một cách nhanh chóng, chính xác, cập nhật, trở thành một hệ sinh thái hữu ích cho các độc giả-thành viên của Tạp chí Kinh tế Việt Nam-Vnecononomy và Vietnam Economic Times.
Đánh giá về cách làm của Tạp chí Kinh tế Việt Nam, PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, cho rằng đây là một mô hình hay, vận dụng đúng các quy luật kinh tế để phát triển tờ tạp chí chuyên sâu về kinh tế. Điều quan trọng nhất là huy động được lực lượng cán bộ, nhân viên Tòa soạn cùng tham gia đầu tư.
"Với cách làm như vậy, các tạp chí không nhất thiết phải chạy theo xu hướng công nghệ mà lựa chọn công nghệ phù hợp để phục vụ cho nội dung của tạp chí khoa học. Đây cũng là một hướng đi cho các tạp chí. Bởi nếu chạy theo thị trường sẽ rất khó nhưng nếu biết dựa trên tiến bộ công nghệ để ứng dụng vào tờ báo, tạp chí thì sẽ phát triển và phát triển bền vững bền", ông Linh nói.
Việt Nam tăng 5 bậc, lên vị trí 50 trong bảng xếp hạng hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu năm 2026, trong đó TP. Hồ Chí Minh lần đầu góp mặt trong nhóm 100 hệ sinh thái khởi nghiệp hàng đầu thế giới...
Kinh tế tầm thấp và kinh tế không gian vũ trụ đang mở ra không gian phát triển mới, nhưng để biến tiềm năng thành giá trị kinh tế thực sự, Việt Nam cần đồng thời giải bài toán về công nghệ, thể chế, hạ tầng, nhân lực và thị trường. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy ghi nhận những góc nhìn, kiến nghị từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu tại đối thoại “Phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp tại Việt Nam”, qua đó góp phần hoàn thiện hệ sinh thái này.
Kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp, dù được xem là những động lực tiềm năng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế, nhưng cũng đang vướng không ít điểm nghẽn. Nếu không sớm được tháo gỡ, Việt Nam sẽ không chỉ khó phát triển và khai thác đầy đủ tiềm năng của lĩnh vực này mà còn có nguy cơ tụt lùi so với cuộc chạy đua “thần tốc” của thế giới trong lĩnh vực này...
Các sản phẩm công nghệ cao, trong đó có các phương tiện bay không người lái (UAV) và công nghệ không gian vũ trụ (vệ tinh…), nếu không có “bàn tay” tạo dựng thị trường ban đầu của Nhà nước cho các sản phẩm mới, thì những lĩnh vực được xem là động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế sẽ khó có “đất dụng võ” và các doanh nghiệp sẽ không dám đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu, sản xuất...
Kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp đang được nhiều quốc gia xác định là những động lực tăng trưởng mới trong quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Không chỉ tạo ra các ngành công nghiệp công nghệ cao có giá trị gia tăng lớn, hai lĩnh vực này còn góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng thông qua nâng cao năng suất lao động, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và mở rộng các thị trường dịch vụ số...
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Quy định cơ chế ủy quyền, giao thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan điều tra cho Trưởng, Phó trưởng công an cấp xã… có thể dẫn đến tình trạng thẩm quyền phân tán nhưng trách nhiệm khó kiểm soát. Thậm chí, điều này có thể vô hình chung làm hình thành thêm hơn 3.000 cơ quan điều tra ở cấp xã.