
Trung bình một năm thư viện Quốc gia chỉ được cấp 18 tỷ, thư viện cấp tỉnh được khoảng 2,6 tỷ, cấp huyện được khoảng 53 triệu còn cấp xã thì không có bất kỳ nguồn nào.
Đó là thực trạng được nêu tại báo cáo kết quả khảo sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thư viện của Uỷ ban Văn hoá, giáo dục, thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, vừa hoàn thành trong tháng này.
Việc khảo sát nhằm phục vụ thẩm tra dự án Luật Thư viện sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 tới (tháng 5/2019).
10 năm không nhúc nhích
Kết quả khảo sát cho thấy vô số hạn chế, yếu kém từ quy hoạch phát triển ngành thư viện cho đến chính sách đầu tư phát triển thư viện.
Đoàn giám sát cho rằng, việc xây dựng quy hoạch phát triển ngành thư viện chậm, triển khai thực hiện chưa hiệu quả ở cả Trung ương và địa phương. Pháp lệnh Thư viện được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua năm 2000, nhưng phải gần 7 năm sau, tháng 5/2007 quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến 2010, định hướng đến 2020 mới được phê duyệt.
Trên thực tế, việc triển khai quy hoạch phát triển ngành thư viện chỉ được thực hiện đối với hệ thống thư viện công cộng, kết quả rất hạn chế. Sau 10 năm triển khai mới có 20% số tỉnh phê duyệt đề án phát triển mạng lưới thư viện, 30% đang triển khai xây dựng, còn 50% chưa triển khai thực hiện.
Nội dung quy hoạch còn nhiều hạn chế và không phù hợp thực tiễn. Toàn bộ nội dung quy hoạch không đề cập đến vai trò của thư viện trong việc xây dựng văn hóa đọc cho nhân dân, báo cáo giám sát nêu rõ.
Đoàn giám sát cũng nhấn mạnh, đến nay, sau 11 năm triển khai thực hiện quy hoạch phát triển ngành thư viện 2010 - 2020, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chưa có báo cáo sơ kết 5 năm hoặc tổng kết 10 năm thực hiện quy hoạch.
Tiền mỗi nơi mỗi khác
Đáng chú ý, qua khảo sát thực tế, việc đầu tư ngân sách cho hệ thống thư viện chưa được quan tâm đồng đều, nhất là với hệ thống thư viện công cộng, mức đầu tư còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động thư viện.
Cụ thể, đối với Thư viện Quốc gia, nguồn kinh phí được cấp trung bình 18 tỷ đồng/năm và không tăng trong thời gian qua. Hiện nay, thực hiện cơ chế tự chủ, Thư viện Quốc gia chủ động tìm kiếm, huy động nguồn tài chính ngoài ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng hoạt động.
Đối với thư viện cấp tỉnh, ngân sách được cấp bình quân khoảng 2,6 tỷ đồng/1 năm (từ 2001 đến nay đều tăng, hơn 80% thư viện tăng kinh phí gấp hai, ba lần so với trước năm 2001). Tuy nhiên chủ yếu dành chi trả lương cán bộ, kinh phí dành cho bổ sung sách, mua sắm trang thiết bị và tổ chức các hoạt động rất eo hẹp, chưa đáp ứng được yêu cầu.
Còn ở thư viện cấp huyện, ngân sách cấp cho mỗi thư viện bình quân khoảng 53 triệu đồng/1 năm, tăng 3 triệu so với năm 2010. Tuy nhiên, do quy định không cụ thể và thiếu văn bản hướng dẫn nên việc đầu tư kinh phí cho thư viện cấp huyện ở mỗi nơi lại khác nhau. Các thư viện huyện trực thuộc UBND cùng cấp thường được cấp kinh phí nhiều hơn, cá biệt một số thư viện cấp huyện có mức kinh phí tương đương một số thư viện cấp tỉnh (từ trên 1 tỷ đến trên 2 tỷ), trong khi vẫn còn hơn 30% thư viện cấp huyện không được cấp kinh phí hằng năm để bổ sung sách báo và tổ chức hoạt động.
Hệ thống thư viện cấp xã hầu như chưa được quan tâm đầu tư kinh phí từ bất kỳ một nguồn nào do thiếu cơ chế, theo báo cáo giám sát.
Nguyên nhân của thực trạng trên được báo cáo giám sát chỉ rõ là do không ít ngành, địa phương chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của thư viện. Thêm vào đó, ngân sách phân bổ cho thư viện nằm chung trong ngân sách cấp cho lĩnh vực văn hóa - thông tin, do đó tình trạng cấp kinh phí cho hoạt động thư viện ở các địa phương thường bị huy động cho lĩnh vực khác.
Kết quả giám sát cũng cho thấy, ngân sách từ chương trình mục tiêu quốc gia về thư viện cấp cho thư viện còn thấp và chưa đạt so với chỉ tiêu đặt ra. Chỉ đạt khoảng từ 2-3 triệu/năm cho 63 tỉnh thành, với khoảng 2.000 bản sách/thư viện, bằng 10% chỉ tiêu đặt ra là 20.000 bản sách/thư viện.
Trong khi đó, một số địa phương chưa bảo đảm cấp đủ vốn cho mục tiêu của thư viện theo phân bổ. Mục tiêu hỗ trợ sách cho 400 thư viện trên cả nước chưa đạt (thực tế chỉ 300 thư viện/năm được tiếp nhận dự án). Thêm vào đó, thời gian đấu thầu cung cấp sách do Bộ Văn hoá thể thao và du lịch thực hiện kéo dài nên sách chuyển về địa phương bị chậm. Chất lượng sách nhìn chung chưa thực sự đáp ứng nhu cầu.




Sự thay đổi trong triển vọng lãi suất của Mỹ đang gây ra những biến động đáng kể trên thị trường ngoại hối toàn cầu, đặc biệt là đối với các đồng tiền của các thị trường mới nổi và các nước xuất khẩu nhiều tài nguyên thiên nhiên...
Xu hướng mất giá của đồng yên Nhật Bản tiếp tục duy trì, đưa đồng tiền này xuống mức gần thấp nhất 40 năm...
Bộ Tài chính đề xuất kéo dài thời hạn nộp một số loại thuế và tiền thuê đất trong năm 2026 với tổng quy mô ước tính khoảng 125.000 tỷ đồng. Giải pháp này nhằm tạo thêm dư địa tài chính cho doanh nghiệp và người dân, qua đó góp phần duy trì đà phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế...
Trong phiên sáng 19/6, chênh lệch giá mua, bán vàng miếng SJC và vàng nhẫn 9999 phổ biến quanh ngưỡng 3 triệu đồng/lượng. Riêng tại ba doanh nghiệp, khoảng cách giữa giá mua và giá bán vàng nhẫn cao hơn, neo tại 3,5 triệu đồng/lượng…
Chương trình “Thanh toán ngay – Lộc phát về tay” của FE CREDIT đã chính thức về đích, ghi dấu hành trình cùng khách hàng xây dựng thói quen tài chính lành mạnh: Thanh toán đúng hạn. Cùng cam kết của FE CREDIT: Luôn là điểm tựa tài chính tin cậy, cùng khách hàng kiến tạo những giá trị bền vững.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.