Huy động vốn tăng trưởng cao trong khi tăng trưởng tín dụng rất thấp tiếp tục là “nghịch lý” được đại biểu Quốc hội đặt ra
chất vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình sáng 13/11
.
Trả lời câu hỏi liên quan đến vấn đề này, lần đầu tiên Thống đốc Bình dẫn chi tiết dữ liệu cụ thể về cơ cấu nguồn vốn của hệ thống như vậy.
Ông nói: “Nếu đại biểu có điều kiện đến Ngân hàng Nhà nước, các vụ chức năng sẽ giới thiệu bảng cân đối của toàn ngành thì sẽ thấy rất rõ tiền vào, tiền ra, khoản nào mua mắm, khoản nào mua tép… rất đầy đủ”.
Tuy nhiên, ở diễn đàn Quốc hội, ông chỉ có thể dẫn ra những dữ liệu tương đối để định hình cân đối chung một cách cơ bản.
Cụ thể, đến tháng 10/2012, tăng trưởng huy động của hệ thống đạt khoảng 14%, trong khi tăng trưởng tín dụng mới chỉ được khoảng 3,36%. 14% tăng trưởng huy động đó quy ra cỡ khoảng trên dưới 400 nghìn tỷ đồng, và nó chạy đi đâu?
Theo Thống đốc, trước hết, tăng trưởng tín dụng 3,36% thì xấp xỉ với hơn 80 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó các ngân hàng đã mua 183 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ. Cộng lại là khoảng 260 - 270 nghìn tỷ đồng. Thêm vào đó, hiện nay Ngân hàng Nhà nước còn phải hút bớt tiền về cỡ trên dưới 30 nghìn tỷ đồng. Vị chi cộng các khoản trên là 300 nghìn tỷ đồng.
Một nguồn khác, hiện tổng số tiền gửi của các ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước vào khoảng 100 nghìn tỷ đồng. Trong đó có khoảng 50 nghìn tỷ đồng là dự trữ bắt buộc, khoảng 50 nghìn tỷ đồng là dư thừa chưa cho vay ra được.
Cộng tất cả các khoản trên, theo Thống đốc, đã là khoảng 360 nghìn tỷ đồng; khoảng 40 nghìn tỷ đồng còn lại là tiền đảm bảo thanh toán, tiền quỹ của các ngân hàng thương mại.
“Sơ bộ những nội dung đó cho thấy tiền đã đi đâu”, ông kết luận, cùng với thông tin rằng, thanh khoản của hệ thống đã cải thiện nhưng chưa hẳn là đã bền vững.
Liên quan đến tăng trưởng tín dụng, người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước dự tính cả năm 2012 sẽ được khoảng 5%. Tuy nhiên, ông cho rằng cần cộng thêm khoản 183 nghìn tỷ đồng mà các ngân hàng đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, là một hình thức giải ngân gián tiếp, thì tăng trưởng tín dụng chung cũng đạt gần 10%.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phát triển công nghiệp hàng hải theo tư duy hệ sinh thái, có trọng tâm, nâng cao năng lực tự chủ; không bao cấp trở lại, không đầu tư dàn trải và không để mất năng lực chiến lược.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Phú Thọ duy trì tăng trưởng trên 11%, giải ngân vốn đầu tư công, phát triển công nghiệp công nghệ cao và xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng trong năm.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Lào Cai đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế biên mậu, logistics, đẩy nhanh đầu tư công, tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và tạo đột phá về chuyển đổi số.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...