
6,8% là con số khá chắc chắn của tốc độ tăng GDP 2019 và dự kiến chỉ tiêu này cho năm sau cũng bằng số đó.
Báo cáo tại phiên họp toàn thể của Uỷ ban Kinh tế Quốc hội chiều 4/10, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, 2019 là năm thứ 2 liên tiếp ước đạt và vượt toàn bộ 12/12 chỉ tiêu Quốc hội giao, trong đó 5 chỉ tiêu vượt và 7 chỉ tiêu đạt mục tiêu kế hoạch đề ra.
Trong các chỉ tiêu vượt có CPI ước thực hiện cả năm 2,7-3% (mục tiêu khoảng 4%), nhập siêu mục tiêu dưới 3% ước thực hiện xuất siêu 0,4%...
Tăng trưởng giảm dần phụ thuộc vào khoáng sản và tín dụng
Năm 2019, theo báo cáo, quy mô kinh tế mở rộng, đạt khoảng 266,5 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 2.786 USD (năm 2018 là 2.590 USD). Chất lượng tăng trưởng duy trì đà cải thiện. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khá (gần 5,9%), giúp duy trì mức tăng năng suất lao động toàn xã hội bình quân giai đoạn 2016-2019 đạt 5,8%/năm, vượt mục tiêu kế hoạch 5 năm (5,5%/năm).
Tăng trưởng giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác khoáng sản và tăng trưởng tín dụng, từng bước chuyển sang dựa vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt khá (42,7%), duy trì ở mức trên 40%.
Biểu hiện cụ thể của việc giảm dần phụ thuộc vào khai thác khoáng sản và tăng trưởng tín dụng là tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP theo giá cơ bản giai đoạn 2016-2019 tăng qua từng năm (năm 2016 là 14,3%; năm 2017 là 15,3%; năm 2018 là 16%), trong khi đó, tỷ trọng của nhóm ngành khai khoáng giảm dần (năm 2016 là 8,1%; năm 2017 là 7,5%; năm 2018 là 7,4%).
Tăng trưởng tín dụng được kiểm soát phù hợp với chỉ tiêu định hướng, đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần cải thiện tăng trưởng GDP. Mức tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP năm 2016 lần lượt là 18,25% và 6,21%; năm 2017, là 18,28% và 6,81%; năm 2018 là 13,89% và 7,08%; năm 2019 dự kiến khoảng 14% và 6,8%.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận định, thị trường tiền tệ, tín dụng, ngoại hối cơ bản ổn định, thanh khoản tốt, đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, tập trung cho lĩnh vực ưu tiên. Tình trạng "vàng hóa", "đô-la hóa" giảm đáng kể, niềm tin vào đồng tiền Việt Nam tăng lên, hệ số tín nhiệm quốc gia được cải thiện.
Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, nhất là tổ chức tín dụng yếu kém, gắn với xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ, giữ ổn định, an toàn hệ thống. Đến cuối tháng 6/2019, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống tổ chức tín dụng là 1,91%; tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu là 5,39%, giảm mạnh so với cuối năm 2016 (10,08%), năm 2017 (7,36%) và cuối năm 2018 (5,85%).
Năng lực tài chính, chất lượng tín dụng, năng lực quản trị điều hành, tính minh bạch hoạt động của tổ chức tín dụng được cải thiện giúp quy mô vốn điều lệ của hệ thống tổ chức tín dụng đến cuối tháng 6/2019 đã tăng 1,05% so với cuối năm 2018, quy mô vốn chủ sở hữu tăng 9,63%. Đã có 9 tổ chức tín dụng được áp dụng chuẩn Basel II đáp ứng thông lệ quốc tế về an toàn vốn trước thời hạn (1/1/2020).
Tăng trưởng đạt mục tiêu kế hoạch 5 năm
Nhận định 2020 có nhiều thuận lợi song nội tại nền kinh tế còn khá nhiều vấn đề, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến các chỉ tiêu chủ yếu cho năm sau: GDP tăng khoảng 6,8% so với năm 2019. CPI bình quân tăng dưới 4% so với bình quân năm 2019. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 7% so với năm 2019. Tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3%. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội chiếm khoảng 33-34% GDP.
Báo cáo cũng nêu dự kiến một số cân đối lớn của nền kinh tế năm 2020. Như, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước dự kiến đạt 1.512,3 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 3,8% so với năm 2019; tổng chi cân đối ngân sách nhà nước dự kiến đạt 1.747,1 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 4,8%; bội chi ngân sách nhà nước dự kiến khoảng 238,4 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 3,44% GDP.
Khả năng huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2020 đạt khoảng 2.363,2 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 13,2% so với năm 2018, bằng khoảng 34,4% GDP.
Xuất khẩu hàng hóa năm 2020 dự kiến đạt khoảng 282 tỷ USD, tăng khoảng 7% so với năm 2019, nhập khẩu hàng hóa dự kiến đạt khoảng 286 tỷ USD, tăng khoảng 9%, nhập siêu khoảng 4 tỷ USD, chiếm 1,4% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Nhu cầu điện năm 2020 dự kiến tăng khoảng 9,1% so với năm 2019, điện sản xuất và mua năm 2020 khoảng 265,4 tỷ kWh.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên dự kiến đạt khoảng 56,2 triệu người, trong đó lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân dự kiến đạt khoảng 55,2 triệu người, tăng 7% so với năm 2019, giảm tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị dự kiến dưới 4%.




Ngày 7/10, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiếp tục ngày làm việc thứ ba, thảo luận về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện ngân sách nhà nước năm 2026 và dự kiến kế hoạch năm 2027; cùng nhiều nội dung quan trọng về thu hút nhân tài, hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên và công tác xây dựng Đảng.
Sau hơn một năm cả nước vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền theo Nghị quyết 28-NQ/TW trở nên cấp thiết. Điều này nhằm bảo đảm hệ thống chính trị tinh gọn thực sự đi đôi với hiệu lực và hiệu quả.
Hai bên nhất trí khai thác lợi thế địa kinh tế của Việt Nam và Panama, tăng cường kết nối vận tải, logistics, dòng tài chính và chuỗi cung ứng giữa Đông Á với Mỹ Latinh; đồng thời ký kết, trao 9 văn kiện hợp tác trong các lĩnh vực vận tải biển, an ninh, nông nghiệp, du lịch, hải quan, hàng không và đào tạo.
Chiều 6/10, tại Nhà Quốc hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân chủ trì Lễ đón trọng thể Tổng thống Cộng hòa Panama José Raúl Mulino và Phu nhân, đang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 5 đến 8/10/2026.
Trong ngày làm việc thứ hai Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Trung ương tập trung thảo luận nhiều nội dung quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; công tác cán bộ; thu hút, trọng dụng nhân tài; hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên và công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.