
Trong kiến nghị gửi tới Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2019 sắp diễn ra, Hiệp hội doanh nghiệp Ấn Độ nêu vướng mắc: Theo Dự thảo Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, vốn đầu tư tối thiểu của dự án PPP được đánh đấu ở mức 200 tỷ đồng, tương đương 8,7 triệu USD, trừ trường hợp thoả thuận quản lý và điều hành.
Tuy nhiên, quy định này đặt ra câu hỏi làm thế nào các dự án dưới 200 tỷ đồng có thể được thực hiện dưới hình thức PPP?
Trong thực tế, tỷ lệ các dự án nằm dưới ngưỡng bị cắt là rất thấp (khoảng 30%, theo dữ liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
Song, nhiều dự án quy mô nhỏ về y tế, khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường và giáo dục với tổng vốn đầu tư dưới 200 tỷ đồng (khoảng 8,7 triệu đô la ..) vẫn thuộc các ngành được khuyến khích vì giá trị gia tăng của họ đối với xã hội. Do đó, nên có một cơ sở pháp lý để được coi là một dự án PPP.
"Chính phủ có thể xem xét ban hành một nghị định hướng dẫn với các quy định tương tự nhưng đơn giản hơn luật PPP đối với các dự án quy mô nhỏ như vậy", Hiệp hội doanh nghiệp Ấn Độ khuyến nghị.
Đối với quy định về cơ quan thẩm quyền quyết định đầu tư, Hiệp hội này cho rằng, các dự án PPP sẽ được phân loại theo các chỉ số cụ thể, tương tự như việc phân loại các dự án được quy định theo Luật Đầu tư và Luật Đầu tư công.
Cụ thể, một số dự án sẽ phải được sự chấp thuận của Quốc hội; trong khi đối với một số dự án, các chính sách sẽ được Thủ tướng phê duyệt và một số dự án sẽ được sự chấp thuận của các cơ quan có thẩm quyền quy định trong dự thảo luật PPP.
Tuy nhiên, việc cơ quan nào có thẩm quyền quyết định chính sách đầu tư còn nhiều mập mờ. Đặc biệt, các cơ quan có thẩm quyền bao gồm các Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh/ thành phố có thẩm quyền phê duyệt các dự án không được phê duyệt ở cấp Quốc hội hoặc Thủ tướng.
Do đó, dự thảo cần phải rõ ràng về sự quy định thẩm quyền giữa các cơ quan khác nhau ở các cấp khác nhau để giảm thiểu sự không chắc chắn về các khía cạnh chính sách.
Hiệp hội này cũng cho rằng, Luật PPP không đề cập đến sự đảm bảo cho các trường hợp liên quan đến thay đổi luật, nên các nhà đầu tư đã đặt ra mối lo ngại về sự khó lường của luật pháp Việt Nam. Các dự án PPP đòi hỏi sự ổn định cao hơn từ phía chính sách vì đây là các dự án dài hạn và việc thực hiện dự án tốn nhiều thời gian.
"Một điều khoản để bảo vệ nhà đầu tư khỏi những rủi ro liên quan đến sự thay đổi trong luật pháp sẽ là một điểm cộng cho dự thảo luật này", Hiệp hội doanh nghiệp Ấn Độ nhấn mạnh.
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đánh giá Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm đã không ngừng phát triển, khẳng định vị thế là một trong những cơ quan báo chí kinh tế hàng đầu, uy tín của đất nước...
"Chúng tôi tin tưởng Tạp chí Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ, hiện thực hóa mục tiêu trở thành tổ hợp truyền thông đa nền tảng, hiện đại, chất lượng cao, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước"...
Công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 phải tạo chuyển biến thực chất trong nhà trường, đội ngũ giáo viên và người học, đồng thời cụ thể hóa Nghị quyết 71-NQ/TW bằng nhiệm vụ, nguồn lực, thời hạn và trách nhiệm rõ ràng.
Dự thảo Nghị định mới về kinh doanh xăng dầu tập trung tái cơ cấu hệ thống phân phối, cắt giảm khâu trung gian và bắt buộc số hóa dữ liệu. Việc hoàn thiện khung pháp lý này nhằm minh bạch hóa thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng và duy trì nguồn cung ổn định cho nền kinh tế trong mọi tình huống…
Báo chí Cách mạng Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc giám sát xã hội và phản biện chính sách. Chính năng lực giám sát, phản biện đã thúc đẩy việc hoàn thiện thể chế, tạo nên uy tín và sức mạnh cho báo chí với tư cách một “quyền lực thứ tư” trong đời sống hiện đại.
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.