
Công nghiệp vẫn tăng khá. Nguồn vốn ODA rất khả quan, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt kết quả tích cực, lạm phát được kiềm chế nhưng đã có dấu hiệu tăng cao hơn, xuất khẩu tiếp tục sụt giảm và nhập siêu tăng lên... Đó là tổng quan kinh tế tháng 11 và 11 tháng năm 2009.
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 11 tăng cao hơn tốc độ tăng của 10 tháng và tăng hai chữ số (13%), nên tính chung 11 tháng đã tăng khá hơn. Cả 3 khu vực đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực ngoài nhà nước tăng cao nhất (tăng 9,4%), tiếp đến là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (tăng 7,7%).
Đầu tư trong nước tháng 11 thực hiện cao hơn các tháng trước. Vốn đầu tư từ ngân sách 11 tháng đã đạt 88,9% kế hoạch năm, trong đó Trung ương đạt cao hơn địa phương (94,6% so với 85,1%). Một số bộ ngành đạt cao, như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Y tế. Một số địa phương đạt tỷ lệ khá, như Thái Bình, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Lâm Đồng, An Giang,...
Đầu tư nước ngoài trong điều kiện thế giới gặp khủng hoảng, nhưng vẫn đạt kết quả tích cực. Đầu tư trực tiếp đăng ký đạt 19,7 tỷ USD, giảm 72% so với cùng kỳ năm trước, tuy giảm mạnh về lượng vốn đăng ký mới, nhưng lượng vốn bổ sung chỉ giảm nhẹ (-1,7%); lượng vốn thực hiện đã đạt 9 tỷ USD, tuy còn thấp hơn cùng kỳ nhưng đã gần đạt kế hoạch cả năm.
Nguồn vốn ODA đạt kết quả khá cao, khả năng cả năm đạt 3 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay. Đầu tư trong nước gia tăng và khả năng cả năm so với GDP ở mức cao. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư tiếp tục xu hướng thấp, vừa ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng, vừa là yếu tố tiềm ẩn của lạm phát.
Lạm phát sau 10 tháng ở mức 5,07% và tính bình quân sau 1 năm ở mức 6,91% - đều thấp xa so với cùng kỳ năm trước; nếu tháng 12 có tăng tới 1% thì cả năm cũng thấp hơn cả năm trước. Tuy nhiên, giá vàng tăng khá cao (48,72%) trong nhiều thời điểm cao hơn giá vàng thế giới. Giá USD tăng cao hơn năm trước, trong khi giá USD trên thế giới giảm mạnh, nên ngoài yếu tố lượng ngoại tệ vào nước ta bị sụt giảm từ các nguồn, thì tình trạng găm giữ ngoại tệ của doanh nghiệp, của người dân gia tăng, các nhà đầu cơ lợi dụng, làm cho thị trường vàng, ngoại tệ nóng lên.
Xuất khẩu tiếp tục bị sụt giảm và khả năng cả năm sẽ giảm ở mức hai chữ số do gặp khó khăn về thị trường, giá cả, hàng rào kỹ thuật, về nguồn hàng và quan trọng hơn là hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp. Nhập siêu tiếp tục gia tăng và cả năm có thể lên đến trên dưới 12 tỷ USD; tuy thấp hơn năm trước, nhưng vẫn tác động lớn đến cán cân thanh toán tổng thể, tạo sức ép lên tỷ giá. Đây là lĩnh vực gặp khó khăn nhiều nhất, lâu nhất trong năm 2009 và có thể còn kéo dài đến những năm sau. Tổng mức bán lẻ tăng 18,5%, nếu loại trừ yếu tố tăng giá (6,91%) thì tăng trên 10,8%, vừa cao hơn các con số tương ứng của các tháng trước, vừa cao hơn tốc độ tăng GDP.
Trong điều kiện có những diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó lường, việc điều hành của Chính phủ đã có sự linh hoạt, kịp thời, có những mặt, những lĩnh vực đã “vượt trước ngăn chặn”. Từ cuối năm trước, lạm phát đã được chặn đứng, nhưng hiệu ứng phụ của việc kiềm chế lạm phát cộng hưởng với các yếu tố bên ngoài đã làm cho tăng trưởng kinh tế bị suy giảm, Chính phủ đã cho nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khoá, trong đó đáng lưu ý là cấp bù lãi suất vay vốn. Động thái này đã giúp cho nhiều doanh nghiệp thoát khỏi sự phá sản và nền kinh tế đã thoát đáy vượt dốc đi lên.
Khi tiền tệ - tài khoá nới lỏng và tăng trưởng kinh tế cao lên qua các quý thì lại có hiệu ứng phụ là bất ổn vĩ mô, có nguy cơ lạm phát cao trở lại. Chính phủ đã cho nâng lãi suất cơ bản, điều chỉnh tỷ giá và sẽ dừng chương trình cấp bù lãi suất đúng hạn để ngăn chặn nguy cơ lạm phát. Khi giá vàng trong nước thấp hơn giá vàng thế giới thì cho xuất khẩu vàng; khi giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới thì cho nhập khẩu vàng...
Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Quốc khánh Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), lãnh đạo các nước: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Vương quốc Campuchia, Liên bang Nga, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Mông Cổ, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa Pháp, Vương quốc Anh đã có điện và thư mừng gửi lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Tuyên ngôn Độc lập 1945 là văn kiện có ý nghĩa chính trị và pháp lý, là nền tảng vững chắc để dân tộc ta xây dựng, thực thi chủ quyền toàn diện, trong đó có chủ quyền kinh tế trên các lĩnh vực tài nguyên, tiền tệ, công nghệ, hướng tới một nền kinh tế tự chủ, tự cường.
Sáng 2/9, nghi lễ Thượng cờ được tổ chức trang nghiêm tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi cách đây 81 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã coi trọng việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ cách đây gần 80 năm, còn Việt Nam mới chỉ bắt đầu công cuộc này cách đây một phần tư thế kỷ. Vì vậy, vẫn còn rất nhiều việc cần làm để phát huy tối đa vai trò của khu vực này, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.
Các thành phố lớn tại Việt Nam đang đối mặt với tình trạng “đô thị nén”, mật độ xây dựng cao, thiếu không gian mở và cây xanh. Điều này làm suy giảm khả năng thông gió tự nhiên, gia tăng hiện tượng đảo nhiệt đô thị và khiến con người ngày càng phụ thuộc vào hệ thống điều hòa…
Thay đổi từ tư duy bồi thường thiệt hại về đất sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi. Câu chuyện tái thiết sinh kế, việc làm, thu nhập cho người bị thu hồi đất là vấn đề trọng tậm cần được tập trung giải quyết.