
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản gửi Cục Phát thanh - Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông) góp ý dự thảo nghị định về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình (sửa đổi Nghị định 06/2016).
Những ý kiến này hình thành trên cơ sở nghiên cứu của chuyên gia và phân tích tổng hợp các ý kiến thu nhận tại hội thảo lấy ý kiến doanh nghiệp đối với dự thảo nghị định nói trên, được VCCI tổ chức vừa qua.
Theo VCCI, thay đổi cơ bản nhất, dự kiến cũng tạo ra tác động lớn nhất của dự thảo so với Nghị định 06 là việc đưa "dịch vụ ứng dụng viễn thông để cung cấp nội dung theo yêu cầu trên hạ tầng kỹ thuật truyền dẫn phát sóng phát thanh truyền hình đến người sử dụng" vào diện "dịch vụ phát thanh, truyền hình", từ đó thiết kế việc kiểm soát dịch vụ này với tính chất kiểm soát dịch vụ phát thanh, truyền hình.
"Mặc dù quy định chưa thật rõ ràng, dường như theo dự thảo này thì các dịch vụ cung cấp các sản phẩm giải trí (phim, nhạc, chương trình giải trí khác) và các "nội dung" khác thực hiện trên nền tảng Internet vốn đang khá phổ biến hiện nay sẽ được xếp vào diện "dịch vụ phát thanh, truyền hình" và thuộc cơ chế quản lý áp dụng đối với dịch vụ phát thanh, truyền hình", VCCI băn khoăn.
Bởi, VCCI cho rằng, từ góc độ pháp lý và thực tiễn, việc xếp các dịch vụ "cung cấp nội dung theo yêu cầu" trên Internet vào nhóm dịch vụ phát thanh, truyền hình là chưa hợp lý, không phản ánh đúng bản chất của hoạt động phát thanh, truyền hình.
Mâu thuẫn với luật
Sự chưa hợp lý, được VVCCI phân tích cụ thể ở bốn nội dung.
Thứ nhất, về mặt pháp lý, phụ lục 4 Luật Đầu tư (về danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện) quy định dịch vụ cung cấp nội dung trên mạng Internet (bao gồm cả theo yêu cầu hoặc không theo yêu cầu) ở mục riêng, độc lập với dịch vụ phát thanh, truyền hìn. Do đó việc dự thảo xếp dịch vụ này vào nhóm dịch vụ phát thanh, truyền hình dường như mâu thuẫn với quy định của Luật Đầu tư.
Thứ hai, về mặt thông lệ quốc tế, theo phân loại dịch vụ hàng hóa của Liên hiệp quốc (Hệ thống CPC, phiên bản 2.1) thì dịch vụ phát thanh, truyền hình được xếp vào mã CPC 846 (Broadcasting, programming and programme distribution services), bao gồm các dịch vụ phải gắn với đài phát thanh (radio) hoặc đài truyền hình (television), kể cả các dịch vụ phát thanh, phát sóng trực tiếp hay các dịch vụ liên quan tới phát thanh, phát sóng.
Còn các dịch vụ cung cấp nội dung theo yêu cầu trên Internet được xếp vào mã CPC 843 (Online content), bao gồm tất cả các dịch vụ cho phép cung cấp các nội dung bất kỳ trên Internet (thông tin bằng văn bản, game, sách, audio, video, film and other video download, streamed video, phần mềm download…).
Như vậy, theo phân loại chung của thế giới thì dịch vụ ứng dụng viễn thông để cung cấp nội dung theo yêu cầu (và cả các nội dung giá trị gia tăng) đang được xem xét trong dự thảo này được xếp vào nhóm dịch vụ nội dung mạng (online content) chứ không phải dịch vụ phát thanh, truyền hình.
Nguy cơ vi phạm
Thứ ba, về mặt cam kết quốc tế, mặc dù Việt Nam không có cam kết trong WTO về dịch vụ phát thanh, truyền hình, nhưng lại có cam kết về dịch vụ nội dung trên Internet (On-line information and data processing (incl. transaction processing) – dịch vụ xử lý thông tin và dữ liệu trên mạng, bao gồm cả xử lý giao dịch) mà vào thời điểm đàm phán WTO thì được xếp vào mã CPC 843**, với miêu tả nội hàm hoàn toàn đồng nhất với dịch vụ ứng dụng viễn thông để cung cấp nội dung theo yêu cầu được xem xét tại dự thảo này.
Nói cách khác, với việc cam kết này, Việt Nam đã chính thức ghi nhận dịch vụ ứng dụng viễn thông để cung cấp nội dung là dịch vụ nội dung mạng, không phải dịch vu phát thanh, truyền hình, văn bản của VCCI nêu.
Thêm nữa, dù theo pháp luật trong nước Việt Nam có hiểu dịch vụ cung cấp nội dung theo yêu cầu là gì thì Việt Nam vẫn phải tuân thủ cam kết về việc mở cửa cho dịch vụ này theo cam kết nói trên. Trong khi đó Việt Nam lại chưa cam kết, và trên thực tế, tại Luật Báo chí điều 51.3.a, chưa mở cửa dịch vụ phát thanh, truyền hình cho nhà đầu tư nước ngoài. Nếu xếp dịch vụ này vào nhóm dịch vụ phát thanh, truyền hình và do đó không mở cho nhà đầu tư nước ngoài, cần đánh giá đầy đủ nguy cơ vi phạm cam kết WTO về vấn đề này.
Cũng liên quan tới vấn đề này, theo VCCI, trên thực tế hiện đã có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang tham gia vào hoạt động kinh doanh các dịch vụ cung cấp nội dung theo yêu cầu trên Internet (theo các hình thức đầu tư khác nhau) phù hợp với cam kết của Việt Nam trong WTO.
Do đó, nếu nay dịch vụ này bị xếp vào nhóm dịch vụ phát thanh, truyền hình, từ đó các nhà đầu tư nước ngoài buộc phải rút khỏi các hoạt động kinh doanh này, thị trường các dịch vụ này sẽ có xáo trộn đặc biệt lớn (về đầu tư, tài chính, cạnh tranh).
Đồng thời, Chính phủ cũng có thể sẽ phải đối mặt với những hệ quả khó dự đoán (ví dụ việc nhà đầu tư nước ngoài có thể kiện Nhà nước theo thủ tục ISDS, Chính phủ nước ngoài có thể kiện Việt Nam theo cơ chế WTO…)
Thứ tư, về mặt thuật ngữ, xét một cách chặt chẽ, phạm vi các dịch vụ phát thanh, truyền hình như định nghĩa tại khoản 1 sẽ không bao gồm các dịch vụ cung cấp nội dung theo yêu cầu mà không sử dụng hạ tầng kỹ thuật phát thanh, truyền hình (chú ý là môi trường/hạ tầng Internet không thể tự động được coi là hạ tầng kỹ thuật phát thanh, truyền hình).
Đề nghị điều chỉnh
Từ các lý do nêu trên, VCCI đề nghị ban soạn thảo điều chỉnh lại phạm vi dự thảo để bảo đảm phạm vi điều chỉnh của nghị định này chỉ bao gồm các dịch vụ phát thanh truyền hình (thuộc mã CPC 846 theo Hệ thống CPC, phiên bản 2.1 của Liên hiệp quốc).
Về các dịch vụ cung cấp nội dung theo yêu cầu trên môi trường Internet mà không thuộc phạm vi phát thanh truyền hình (ví dụ các trang web cung cấp phim, nhạc, các chương trình giải trí, sách, báo, hoặc các sản phẩm trên mạng khác mà nội dung được cung cấp theo yêu cầu của người sử dụng Internet) VCCI cho rằng đây cũng là các dịch vụ cần được kiểm soát.
Tuy nhiên, theo VCCI, việc kiểm soát này cần phải theo cơ chế phù hợp với bản chất của các dịch vụ này và tương ứng với nguy cơ mà các dịch vụ này có thể gây ra đối với các lợi ích công cộng liên quan (chứ không cùng chung cơ chế với dịch vụ phát thanh, truyền hình).
Dù sở hữu nhiều đặc sản tự nhiên độc đáo, song các hợp tác xã và doanh nghiệp vùng cao vẫn đang loay hoay trước bài toán công nghệ, vận hành và thương mại điện tử. Để khoa học - công nghệ thực sự trở thành động lực bứt phá, cần những giải pháp căn cơ, phù hợp với năng lực tiếp nhận của người dân địa phương...
Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ký Quyết định số 3795/QĐ-BKHCN về việc ban hành Bộ chỉ số đo lường sự phát triển ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam…
Vụ rò rỉ dữ liệu tại Tata Electronics là lời nhắc nhở rằng an ninh mạng đang trở thành một phần quan trọng của năng lực cạnh tranh sản xuất, bên cạnh hạ tầng và chi phí lao động…
Dự kiến năm 2027, Kiểm toán nhà nước tập trung vào các lĩnh vực như: quản lý, sử dụng tài sản, tài chính công và ngân sách nhà nước, hoạt động, môi trường và công nghệ thông tin, doanh nghiệp và tổ chức tài chính - ngân hàng...
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ được xây dựng theo hướng tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; dự kiến bãi bỏ 18 thủ tục hành chính và cắt giảm 5 điều kiện kinh doanh...
Để du lịch chăm sóc sức khỏe Việt Nam không dừng lại ở tiềm năng, việc đồng bộ thể chế, tiêu chuẩn chất lượng và phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu là yêu cầu cấp thiết. Đây là những yếu tố quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh bền vững và tạo dựng bản sắc riêng cho dòng sản phẩm này…
Sau hơn nửa năm xung đột Mỹ - Iran, những kỳ vọng rằng căng thẳng sẽ sớm hạ nhiệt, eo biển Hormuz được khai thông và giá dầu trở lại vùng 70-80 USD/thùng đang gặp nhiều thách thức. Đầu tháng 9/2026, giá dầu Brent đã tiến sát 100 USD/thùng. Nhưng điều đáng chú ý không chỉ nằm ở con số này.