Tại hội thảo khoa học “Phát triển ngành sữa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công thương (Bộ Công Thương), cho rằng thị trường sữa Việt Nam có dư địa phát triển rất lớn, cả ở thị trường nội địa lẫn tiềm năng xuất khẩu.
Với quy mô dân số hơn 100 triệu người, trong đó có hơn 24 triệu trẻ em dưới 15 tuổi, nhu cầu tiêu thụ sữa tươi tiếp tục tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, ngành sữa Việt Nam hiện nay phụ thuộc lớn vào sữa và bột sữa nhập khẩu (để sản xuất sữa bột công thức hoặc pha lại thành sữa hoàn nguyên - dạng lỏng).
Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước hiện mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu sản xuất, dẫn đến chi phí nhập khẩu sữa và các sản phẩm từ sữa lên tới hơn 1,1 tỷ USD trong năm 2024, trong đó chủ yếu là sữa bột. Việc sản xuất chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc minh bạch, dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp tới niềm tin người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với sữa dạng lỏng vẫn chưa thực sự rõ ràng hoặc chưa hoàn toàn tiệm cận thông lệ quốc tế, dẫn tới khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng khi phân biệt sản phẩm sữa dạng lỏng chế biến từ sữa tươi nguyên chất và sữa hoàn nguyên, sữa bột pha lại. Điều này cũng gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước, đồng thời ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp.
Chưa kể, ngành sữa Việt vẫn còn tình trạng chăn nuôi manh mún, chế biến nhỏ lẻ, khó kiểm soát chất lượng đầu vào, đặc biệt ở các hộ chăn nuôi nhỏ. Sức ép cạnh tranh từ sản phẩm ngoại nhập, đặc biệt là sữa bột trẻ em từ Úc, New Zealand, châu Âu.... Khó khăn trong phát triển chuỗi liên kết vùng nguyên liệu – nhà máy – thị trường. Hay những thách thức từ rào cản xuất khẩu do tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận Halal, Organic...
Theo TS. Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội chăn nuôi Việt Nam, nhận thức về chất lượng, giá trị dinh dưỡng của sữa và các sản phẩm từ sữa của đại bộ phận người dân, trong đó có không ít cán bộ quản lý chưa đúng, chưa phân biệt đúng bản chất dinh dưỡng và sản phẩm hàng hóa của sữa và sản phẩm từ sữa.
Nhiều quy định về tiêu chuẩn chất lượng và quy chuẩn kỹ thuật đối với sữa và sản phẩm từ sữa không minh bạch, rõ ràng, thiếu đồng bộ và thống nhất giữa các bộ, ngành gây khó khăn cho người sản xuất và lựa chọn của người tiêu dùng.
Quản lý sữa và các sản phẩm từ sữa nhập khẩu còn nhiều bất cập, đang gây bất lợi cho sản xuất trong nước, nhất là đối với người chăn nuôi và các doanh nghiệp chế biến sản phẩm sữa từ nguồn nguyên liệu trong nước.
Giá thành sản phẩm chăn nuôi và chế biến sữa trong nước cao, do các chính sách chưa phù hợp, chưa thực sự hỗ trợ khuyến khích sản xuất trong nước và còn có quá nhiều chi phí bất hợp lý.
Mặt khác, thói quen tiêu dùng thực phẩm, trong đó đặc biệt là sữa và các sản phẩm từ sữa của người Việt Nam chưa phù hợp, hoặc xem sữa là mặt hàng xa xỉ (chỉ để cho trẻ em, người bệnh, người già), hoặc không có thói quen uống sữa (uống hết cốc bia dễ hơn một ly sữa).
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và nhu cầu tiêu dùng trong nước không ngừng gia tăng, ngành sữa Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải chuyển mình mạnh mẽ và phát triển bền vững. Trên tinh thần đó, Bộ Công Thương đã xây dựng Dự thảo Chiến lược phát triển ngành sữa với các mục tiêu, định hướng và giải pháp cụ thể đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chiến lược đặt ra định hướng tăng trưởng toàn ngành đạt từ 8,0% đến 9,0% mỗi năm. Tỷ lệ sữa tươi nguyên liệu trong nước được nâng lên khoảng 53–56% vào năm 2030 và 62–65% vào năm 2045. Đồng thời, sản lượng tiêu dùng bình quân đầu người dự kiến đạt 58 kg/năm vào năm 2045 hoặc cao hơn nữa.
Để đạt được mục tiêu trên, hỗ trợ phát triển bền vững ngành sữa nội địa, Bộ Công Thương đề xuất cần phối hợp liên ngành để đẩy nhanh quá trình hoàn thiện khung pháp lý, đặc biệt là hệ thống quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm sữa dạng lỏng, đảm bảo minh bạch thông tin, bảo vệ người tiêu dùng và tạo môi trường cạnh tranh công bằng.
Đồng thời, xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến sữa hiện đại, khuyến khích đầu tư vào công nghệ tiên tiến, tự động hóa và số hóa trong toàn chuỗi giá trị – từ nguyên liệu đầu vào đến thương mại hóa sản phẩm. Song song, cần tăng cường xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu, tận dụng cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) như EVFTA, CPTPP và RCEP.
Đặc biệt, Bộ Công Thương nhấn mạnh vai trò của công tác kiểm tra, hậu kiểm và quản lý thị trường nhằm ngăn chặn gian lận thương mại, hàng kém chất lượng, bảo vệ thương hiệu ngành sữa Việt Nam và nâng cao lòng tin người tiêu dùng.
Ông Ngô Minh Hải, Chủ tịch HĐQT tập đoàn TH, cho rằng việc tăng trưởng đàn bò sữa là điều kiện tiên quyết để tạo sự đột phá cho chiến lược phát triển ngành sữa, tiến tới tự chủ sữa tươi nguyên liệu nội địa.
Do đó, cần có các chính sách ưu đãi cho ngành chăn nuôi bò sữa trong nước, như: Ưu đãi về thuế (áp dụng thuế VAT 0% cho sữa tươi nguyên liệu cung cấp nội địa), áp dụng các chính sách trợ giá cho nhà đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi bò sữa công nghệ cao…
Bên cạnh đó, có chính sách đặc biệt về tiếp cận đất đai bằng các quyết sách mạnh mẽ để khuyến khích tích tụ ruộng đất, tạo quỹ đất đủ lớn cho các dự án phát triển vùng chăn nuôi bò sữa tập trung; mạnh dạn chuyển đổi các nông lâm trường hoạt động kém hiệu quả để giao cho các doanh nghiệp chăn nuôi bò sữa quy mô lớn; có cơ chế, chính sách, khuyến khích, hỗ trợ người nông dân tham gia cùng doanh nghiệp trong chuỗi liên kết sản xuất ứng dụng công nghệ cao.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu...
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.