
Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa phải phá sản khi không được “bơm vốn” kịp thời.
Tại diễn đàn "Chiến lược huy động vốn của doanh nghiệp trong hoàn cảnh mới", do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và tạp chí Diễn Đàn Doanh Nghiệp tổ chức chiều 24/8/2022, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng các doanh nghiệp đang thực sự gặp khó khăn về vốn do các ngân hàng thương mại đang hạn chế cấp tín dụng.
Theo TS Đinh Thế Hiển, chuyên gia tài chính, ngay cả doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng gặp khó do bị thu hẹp vốn lưu động và cũng rất khó khăn trong vay vốn để đầu tư. Nhiều doanh nghiệp đối mặt với phá sản, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa và bất động sản. Điều này khiến cho doanh nghiệp vững tài chính vẫn có thể gặp rủi ro từ tác động dây chuyền do đứt thanh toán trong chuỗi cung ứng.
Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp TP.HCM Phạm Ngọc Hưng cho biết, doanh nghiệp nhỏ chỉ cần được “bơm vốn” 2-3 tỷ đồng là có thể phục hồi. Nhưng vì không vay được vốn ngân hàng, ngay cả gói hỗ trợ lãi suất 2% cũng khó tiếp cận, khiến hậu bùng phát dịch Covid-19, những doanh nghiệp nhỏ và vừa rời khỏi thị trường rất nhiều, chủ yếu là do hết vốn.
Ông Hưng cho biết thêm, ngay như chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, chỉ những doanh nghiệp khoẻ mới “kết nối” được, không phải doanh nghiệp nào cũng được vay ưu đãi từ chương trình này. Còn gói hỗ trợ lãi suất 2%, ngân hàng cũng không muốn tham gia, vì họ còn e ngại khi trước đó năm 2009, gói hỗ trợ lãi suất 4% đến nay nhiều ngân hàng vẫn chưa quyết toán xong…
Tuy nguồn vốn đang khó khăn, nhưng theo TS Đinh Thế Hiển xu thế thâm dụng vốn đang tăng trở lại ở nhiều ngành kinh tế Việt Nam từ 2018 đến nay. Có nghĩa là doanh nghiệp cần sử dụng nhiều vốn hơn mới tăng trưởng được.
Điều này thể hiện ở tỷ lệ dư nợ tín dụng trên GDP tăng nhanh trong 5 năm gần đây, từ mức 122% năm 2016 lên mức mức 140% hiện nay. Tăng trưởng GDP cũng chưa tương xứng với mức tăng trưởng tín dụng.
Phân tích cho từng ngành của những công ty niếm yết, ông Hiển thống kê được tỷ lệ nợ và tổng vốn tăng nhanh hơn doanh thu; doanh nghiệp bất động sản có mức thâm dụng vốn nhiều nhất.
Nếu như năm 2016, ở các doanh nghiệp niêm yết lớn có mức nợ vay chỉ bằng 59% so với tổng nguồn vốn thì năm 2021 nợ vay có giảm và ở mức 54%, nhưng nợ lại tăng trong 6 tháng đầu năm 2022 khiến chỉ số này tăng lên 57%.
Nợ tăng, doanh thu giảm trong những năm gần đây khiến vốn bị đọng lại. Chỉ tiêu vốn so với doanh thu tăng vọt lên mức 120% năm 2021 và tiếp tục tăng lên 122% trong 6 tháng đầu năm 2022 so với mức 83% của năm 2016. Có thể thấy, dòng tiền của nhiều doanh nghiệp đang khó khăn.
Đối với ngành công nghiệp, các doanh nghiệp này cũng có xu hướng thâm dụng vốn gia tăng nhưng nợ vay lại không được tăng lên.
Điều này thể hiện ở nguồn thu liên tục sụt giảm, vốn liên tục vượt nguồn thu kiếm được. Cụ thể, năm 2016 tổng vốn thấp hơn doanh thu và chỉ bằng 94%, nhưng năm 2019 vốn gấp 1,29 lần doanh thu, 6 tháng đầu năm 2022 tăng vọt và gấp 1,6 lần doanh thu.
Doanh thu giảm cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ vay. Nếu như năm 2016, nợ ở mức 65% nguồn vốn thì con số này lại giảm qua các năm và chỉ còn 42-45% của năm 2021 và 6 tháng đầu năm 2022.
Đối với ngành hàng tiêu dùng và thương mại dịch vụ có kết cấu vốn ổn định và tích cực hơn khi doanh thu tăng hơn tổng tài sản. Điều này cũng do đặc thù của ngành tiêu dùng, đặc biệt trong 2 năm dịch bệnh Covid-19 vừa qua, hàng tiêu dùng thiết yếu không bị ảnh hưởng nhiều khiến doanh thu của ngành hàng tiêu dùng tăng trưởng tốt so với các ngành khác.
Nếu như năm 2016, những doanh nghiệp này vay nợ thấp ,chỉ ở mức 47% so với tổng vốn, thì những năm tiếp theo ổn định ở mức 51%. Do bán được hàng, đặc biệt 6 tháng đầu năm nay, sức mua tăng trở lại nên doanh thu tăng, vốn chỉ bằng 47% doanh thu, tích cực nhất trong 5 năm qua.
Đặc biệt, ông Hiển lưu ý đối với ngành bất động sản và xây dựng niêm yết, từ năm 2018, rủi ro tài chính gia tăng khi tỷ lệ nợ tăng nhanh và năm 2021 đã ở ngưỡng rủi ro.
Nếu như năm 2016 -2019, nợ chỉ chiếm 65% nguồn vốn, thì năm 2021, con số này đã tăng lên 70% và 6 tháng đầu năm 2022 là 73%.
Theo ông Hiển, hoạt động của doanh nghiệp bất động sản có đặc điểm sử dụng vốn lớn, trong đó chủ yếu là vốn vay, vòng quay vốn chậm. Vốn ngân hàng chiếm đến 70% giá trị vốn bất động sản, thời hạn thu hồi bình quân 10 năm, cao gấp 4 lần các ngành sản xuất kinh doanh nên nó có tác động gấp 3 - 4 lần so với các ngành khác cùng khoản vay.
Mặc dù, tín dụng đang hạn chế vào bất động sản, nhưng ngành này vẫn nhận được nhiều vốn thông qua trái phiếu doanh nghiệp. Số liệu thống kê cho thấy, trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ trong 7 tháng đầu năm 2022 đạt 280.641 tỷ đồng, trong đó, nhà phát hành là doanh nghiệp bất động sản và xây dựng chiếm cao nhất, gần 41%. Nhà đầu tư trái phiếu là ngân hàng chiếm lớn nhất, hơn 46%.
“Với mô hình kinh doanh hiện nay, ngân hàng càng tăng tín dụng cho công ty bất động sản sẽ càng tăng thâm dụng vốn. Vốn tín dụng cung ứng cho ngành bất động sản đã nhiều hơn mức cần thiết và nhiều hơn các ngành khác”, ông Hiển nói.
Giá bất động sản cũng tăng liên tục từ năm 2015 -2021, giá tăng cũng khiến tín dụng tăng theo vì nhu cầu vay vốn tăng để mua khi giá tăng… Tốc độ tăng tiền của người vay tăng nhanh, nhưng tín dụng vẫn chỉ tăng 12-14% khiến ngân hàng hụt vốn…
Ngoài ra, ông Hiển cho rằng hơn 70% nhà đầu tư bất động sản là lướt sóng, trong khi bất động sản khai thác chiếm tỷ lệ nhỏ. Do vậy, khi giá chững lại thì thanh khoản giảm mạnh, ảnh hưởng tức thời tới dòng tiền thu hồi của ngân hàng.



Thị trường căn hộ Hà Nội trong nửa đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận nguồn cung mới ở mức cao. Tuy nhiên, sức hấp thụ có dấu hiệu chững lại, trong khi giá bán diễn biến theo hai xu hướng khác nhau giữa thị trường sơ cấp và thứ cấp. Cùng với đó, lãi suất duy trì ở mức cao và sự thay đổi trong cơ cấu nguồn cung đang tác động đến tâm lý người mua…
Thách thức nguồn cung bất động sản nhà ở TP. Hồ Chí Minh không chỉ là vấn đề của riêng Thành phố mà còn là bài toán chung của các đô thị lớn trong quá trình đô thị hóa. Mô hình TOD có thể là một giải pháp tiềm năng, nhưng cần được thực hiện một cách cẩn trọng, đồng bộ để đảm bảo tính bền vững, công bằng…
Trong bối cảnh thị trường bán lẻ tại Hà Nội sôi động với nhiều dự án mới, quy mô không còn là yếu tố chiếm ưu thế. Westlake Square Hanoi ra mắt với định hướng trở thành trung tâm thương mại thế hệ mới, tập trung vào chiều sâu trải nghiệm của khách hàng với tiêu chuẩn Nhật Bản.
Trong hai ngày 11 - 12/7/2026, khu đô thị Nam Long II Central Lake sẽ trở thành tâm điểm giải trí của Cần Thơ với The Wonder Carnival - lễ hội âm nhạc, nghệ thuật và trải nghiệm ngoài trời lấy cảm hứng từ không gian carnival cùng rạp xiếc Mỹ thập niên 80.
Giữa làn sóng dịch chuyển mạnh mẽ về phía Đông TP.HCM, Đồng Nai đang dần khẳng định vai trò cực tăng trưởng mới nhờ lợi thế hạ tầng, không gian ven sông và dư địa đô thị còn rộng mở. Tọa lạc tại tâm điểm này, Izumi City được nhìn nhận là đô thị lý tưởng để an cư khi hội tụ vị trí chiến lược bên sông Đồng Nai, quy hoạch đồng bộ và triết lý phát triển gắn với cả yếu tố hiện đại lẫn phong thủy.
Bước vào 6 tháng cuối năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi tăng trưởng GDP nửa đầu năm đạt mức ấn tượng 8,18%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đầy tham vọng, nền kinh tế phải đối mặt với không ít áp lực từ xu hướng nhập siêu, áp lực lạm phát và điểm nghẽn giải ngân đầu tư công.
Việt Nam đang từng bước làm chủ công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ; phát triển các dược chất phóng xạ thế hệ mới để chẩn đoán và điều trị ung thư, hướng đến phục vụ cộng đồng, người bệnh... Đó là hai trong số rất nhiều hạng mục mà Việt Nam đang nỗ lực trong công cuộc xây dựng nền công nghiệp hạt nhân hiện đại.