Cú lội ngược dòng của dệt may Việt trong "con sóng dữ Covid-19"

Việt Nam đã trở thành nhà xuất khẩu lớn nhất hàng may mặc vào Hoa Kỳ, vị trí mà Trung Quốc chiếm giữ nhiều năm nay...

Ngành dệt may đặt mục tiêu xuất khẩu 55 tỷ USD năm 2025

Bạch Dương

16/12/2020 07:09

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, có tới gần một nửa nhãn hàng thời trang cho biết sẽ tăng mua từ Việt Nam sau Covid-19, một phần do chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng và một phần do các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam vừa tham gia. 

CẦU VÀ GIÁ HÀNG DỆT MAY GIẢM CHƯA TỪNG CÓ VÌ COVID-19

Khảo sát của TS Đỗ Quỳnh Chi, Giám đốc Trung tâm Quan hệ lao động (ERC), hầu hết các báo cáo ngành của khu vực và thế giới đều cho thấy nhu cầu tiêu thụ hàng may mặc và giày dép giảm chưa từng có trong năm 2020. 

Theo ước tính vào quý 3/2020 của PWC và Wazir Advisors, trong năm 2020, nhu cầu hàng may mặc của EU và Hoa Kỳ giảm lần lượt là 45% và 40% và giày dép giảm 27% và 21%. Cho tới thời điểm quý 4/2020, đại dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp tại Mỹ và châu Âu khiến cho thời điểm hồi phục của ngành thời trang về mức trước đại dịch được dự đoán là cuối năm 2022, thậm chí là đầu năm 2023. 

Cầu sụt giảm, giá các mặt hàng thời trang cũng giảm sút ở mức độ chưa từng có trong nhiều thập kỷ qua. Theo dữ liệu của Bộ Thương mại Hoa kỳ, trong vòng 9 tháng năm 2020, giá nhập khẩu may mặc vào Hoa Kỳ đã giảm 13% so với cùng kỳ năm 2019; trong khi mức giảm trung bình của những năm trước chưa tới 1%. 

TS. Đỗ Quỳnh Chi cho hay, dịch Covid-19 tác động mạnh tới doanh nghiệp dệt may và giày dép Việt Nam khi có tới 94,2% doanh nghiệp da giày, 87,1% doanh nghiệp dệt may bị giảm đơn hàng; 84,5% doanh nghiệp da giày, 53,5% doanh nghiệp dệt may bị khách hoãn hủy đơn; 74,8% doanh nghiệp da giày, 22,9% doanh nghiệp dệt may không xuất khẩu được.

Khảo sát tháng 6/2020 của ERC trong ngành dệt may, giày dép và điện tử cho thấy, mới chỉ có 10% nhà máy tại Việt Nam được thanh toán đầy đủ chi phí nguyên vật liệu và nhân công cho các đơn hàng đã sản xuất nhưng bị khách hàng hoãn hoặc hủy. Gần 90% nhà máy bị chậm thanh toán từ 1-6 tháng, thậm chí lâu hơn và nhiều khách hàng đòi giảm giá tới 70%. Kể cả trong trường hợp không bị chậm thanh toán, việc lưu kho trong một thời gian dài cũng gây ra rủi ro chi phí cho nhà máy. 

Khảo sát doanh nghiệp tiến hành trong tháng 9-10/2020 cho thấy, các nhà máy dệt may và giày dép vẫn đang gặp phải khó khăn. Cụ thể, 51% nhà máy cho biết nhãn hàng chậm thanh toán và 16,6% nhà máy không được thanh toán đầy đủ cho các đơn hàng bị hủy. Đặc biệt, 32,4% nhà máy cho biết họ không được nhãn hàng hỗ trợ hoặc chia sẻ thiệt hại khi hoãn, hủy đơn hoặc chậm chuyển hàng nhưng các nhà máy không có cơ sở để yêu cầu. 

CÚ LỘI NGƯỢC DÒNG CỦA DỆT MAY VIỆT 

Sau khi trải qua cơn sốc hồi đầu dịch bệnh, các doanh nghiệp dệt may đã nhanh chóng thích ứng, vượt qua khủng hoảng. 

Chẳng hạn, Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG đã nhanh chóng thích ứng với đại dịch khi chuyển hướng sản xuất khẩu trang, sản phẩm quần áo y tế để xuất khẩu. Covid-19 đã giúp công ty đẩy mạnh mảng ODM (tự phát triển thiết kế và nguyên vật liệu) và OBM (tự phát triển thương hiệu). COVID-19 cũng là động lực giúp TNG tích cực liên kết với các doanh nghiệp khác ở Việt Nam để tự chủ được hơn 70% nguyên vật liệu cho các sản phẩm y tế. 

Trong ngành sợi, đa số các công ty xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Covid-19 xảy ra, ngành sợi rất khó khăn. Tuy nhiên, công ty Sợi Phú Bài vẫn duy trì hoạt động khá tốt vì đã phát triển dòng sợi cao cấp để bán cho các nhà máy dệt FDI ngay tại Việt Nam, thay vì phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc.

Mặc dù đối mặt với "cơn sóng dữ" Covid-19, hai ngành dệt may và da giày Việt Nam cũng có nhiều cơ hội trong bối cảnh thương mại toàn cầu thay đổi. 

Một ví dụ điển hình là tại thời điểm bùng phát dịch Covid-19, Trung Quốc không chỉ giảm tổng lượng xuất khẩu (lên tới 50% với một số mặt hàng) mà mức giá cũng giảm sâu nhất (20%). Trong khi đó, hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là mặt hàng khó may, có giá trị cao, nhờ vậy mà vẫn giữ giá và mở rộng thị phần tại thị trường Hoa Kỳ. 

Vào tháng 6/2020, Việt Nam đã trở thành nhà xuất khẩu lớn nhất hàng may mặc vào Hoa Kỳ, vị trí mà Trung Quốc chiếm giữ nhiều năm nay.

TS Đỗ Quỳnh Chi nhấn mạnh: "Lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, Việt Nam chiếm trên 20% thị phần hàng may mặc vào Hoa kỳ, mặc dù xét về tổng giá trị, xuất khẩu may mặc trong nửa đầu 2020 vẫn chưa đạt mức của năm 2019. Theo phỏng vấn sâu với các nhà máy xuất khẩu sang Hoa Kỳ, một nguyên nhân quan trọng cho xu hướng này là việc các nhãn hàng may mặc đã và đang chuyển đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam nhằm tránh ảnh hưởng của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung".

Ở thị trường châu Âu, hiện tại Việt Nam mới chiếm khoảng 3% thị phần. Với hiệp định EVFTA có hiệu lực ngày 1/8/2020, dự báo xuất khẩu giày sẽ tăng 50% và dệt may tăng 67% vào 2025.

Các doanh nghiệp đã bắt đầu một số điều chỉnh mang tính chiến lược trong thời gian 1-3 năm tới. Có tới 55,7% doanh nghiệp dự định thúc đẩy tự động hóa, 49,8% sẽ phát triển sản phẩm mới, 39,9% sẽ đa dạng hơn nữa sản phẩm và 41,5% sẽ đầu tư nâng cao kĩ năng lao động.

"Rõ ràng thị trường chúng ta có, nhưng quan trọng có cạnh tranh được với các nước như Ấn Độ, Trung Quốc... hay không. Năm 2021 vẫn sẽ chưa hết khó, nhưng 2022-2023 sẽ bật lên rất mạnh", ông Thời nói.  

Năm 2020, do tác động tiêu cực của dịch Covid-19, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may dự kiến đạt 35,27 tỷ USD, giảm 3,6 tỷ USD so với năm 2019, tương đương -9,29%,  thấp hơn nhiều các quốc gia khác, đặc biệt trong bối cảnh tổng cầu dệt may thế giới giảm 25%.

Ông Trương Văn Cẩm, Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam thông tin, mục tiêu đến năm 2025, xuất khẩu ngành dệt may sẽ đạt 55 tỷ USD; trong đó, các sản phẩm chính bao gồm xơ, sợi các loại đạt 4.000 tấn, vải đạt 3.500 triệu m2, sản phẩm may hơn 8.500 sản phẩm. Giá trị thặng dư thương mại đến năm 2025 sẽ phấn đấu đạt 33 tỷ USD, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2025 khoảng 11,6%.

Trong giai đoạn 2020 – 2025, ngành dệt may Việt Nam đứng trước nhiều lợi thế khi loạt các FTA được kí kết và có hiệu lực, thuế suất về 0%.