
Phiên đấu thầu nghiệp vụ OMO nói trên diễn ra trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước hút ròng liên tục qua tín phiếu ở nhiều phiên với tổng lượng tính đến 2/4 là 172.690 tỷ đồng và lãi suất liên ngân hàng ở các kỳ hạn gần như kẻ thẳng đứng trên 4%/năm. Một ngân hàng trúng thầu nói trên đã không vay trên liên ngân hàng mà chấp nhận đấu thấu nghiệp vụ thị trường mở lãi suất 4% sẽ rẻ hơn một chút.
Đến ngày 2/4, lượng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành đứng ở mức 177.150 tỷ đồng. Đầu tuần tới (8/4), lượng tiền VND từ tín phiếu phát hành đợt này sẽ bắt đầu đáo hạn và trở lại thị trường.
Giới phân tích cho rằng điều này có thể tạo áp lực lên tỷ giá vì (1) sức mạnh của đồng USD trên thị trường thế giới được củng cố do Mỹ tiếp tục duy trì lãi suất chính sách ở mức cao cùng với sức mạnh vượt trội của nền kinh tế Mỹ so với phần còn lại của thế giới; (2) ở trong nước, nhu cầu ngoại tệ phục vụ các đơn hàng nhập khẩu hàng hóa nguyên vật liệu gia tăng mạnh trong 3 tháng đầu năm khi các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất đón đầu làn sóng phục hồi tiêu dùng tại các nền kinh tế hàng đầu thế giới; (3) chênh lệch lãi suất qua đêm giữa USD và VND vẫn cao.
Theo Ngân hàng Nhà nước, ngày 29/3, lãi suất bình quân VND trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh ở tất cả các kỳ hạn chủ chốt. Chốt ngày 29/3, lãi suất VND liên ngân hàng giao dịch quanh mức: qua đêm 2,51% ( 2,31%); 1 tuần 2,98% ( 2,5%); 2 tuần 2,71% ( 1,52%); 1 tháng 3,8% ( 2%) so với phiên 23/3.
Lãi suất USD không biến động nhiều ở hầu hết các kỳ hạn ngắn. Phiên cuối tuần 29/3, lãi suất USD liên ngân hàng đóng cửa ở mức: qua đêm 5,21% (không đổi); 1 tuần 5,29% (-0,01%); 2 tuần 5,35% (-0,03%) và 1 tháng 5,4% (không đổi) so với phiên 23/3.
Kết thúc quý 1/2024, tỷ giá USD/VND tại các ngân hàng thương mại ở mức 24.820 VND/USD, tương ứng với mức tăng khoảng 2,27% trong quý đầu năm 2024.
Song, đến chiều 2/4, tỷ giá đã đồng loạt “nổi sóng” trên cả thị trường tự do và tại các ngân hàng thương mại.
Kết thúc phiên giao dịch ngày 2/4, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại tăng từ 50 – 140 VND/USD ở cả 2 chiều.
Trong đó, Vietcombank niêm yết giá mua vào là 24.710 VND/USD, bán ra 25.050 VND/USD, tăng 80 đồng mỗi chiều so với kết phiên ¼.
Tại BIDV, ngày 2/4, tỷ giá tăng 110 đồng so với phiên trước, mua vào 24.755 VND/USD, bán ra 25.065 VND/USD.
Tại Vietinbank, giá USD mua vào tăng 130 đồng (24.685 VND/USD) trong khi chiều bán ra tăng 90 đồng (25.105 VND/USD).
Tại Sacombank, tỷ giá tăng 140 đồng ở cả chiều mua và bán, lần lượt là 24.735 VND/USD và 25.125 VND/USD.
Theo chuyên gia, triển vọng kinh tế trong và ngoài nước còn nhiều yếu tố khó lường, giá hàng hóa thế giới tăng trở lại, rủi ro lạm phát tiềm ẩn, lãi suất ở mức cao tạo thách thức lớn cho việc điều hành cân bằng giữa lãi suất và tỷ giá, cũng như mong muốn tiếp tục giảm lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế.
Trong ngắn hạn, áp lực tỷ giá vẫn còn hiện hữu và có thể đạt mức đỉnh mới nhưng vẫn trong tầm kiểm soát.
Thị trường kỳ vọng việc Fed có thể giảm lãi suất 3 lần trong năm nay với khoảng 85 điểm cơ bản sẽ thu hẹp chênh lệch lãi suất giữa USD và VND, góp phần hạn chế kinh doanh chênh lệch tỷ giá và giảm áp lực mất giá đối với VND.
Theo Tổng cục Thống kê, quý 1/2024, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 178,04 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2023. Cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 8,08 tỷ USD, (gấp 2 lần so với cùng kỳ năm trước).Vốn FDI giải ngân trong quý 1 đạt 4,63 tỷ USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ 2023; vốn FDI đăng ký là 6,17 tỷ USD, tăng 13% so với quý 1/2023.
Những thông tin vĩ mô tích cực trên được kỳ vọng là bệ đỡ cho tỷ giá trong quý 2/2024.
Trong phiên 4/8, giá vàng miếng SJC tại các đơn vị kinh doanh giảm phổ biến lần lượt 500 nghìn đồng/lượng với chiều mua và 1 triệu đồng/lượng với chiều bán, kéo khoảng cách giữa giá mua và giá bán thu hẹp khoảng 1 triệu đồng/lượng. Đối với vàng nhẫn, biên độ điều chỉnh giá mua, bán giữa các doanh nghiệp diễn biến trái chiều…
Việc Mỹ tham gia cùng Nhật Bản trong đợt can thiệp thị trường để hỗ trợ tỷ giá đồng yên gần đây đã đặt ra nhiều câu hỏi về động cơ đằng sau sự phối hợp hiếm hoi này...
Sau 7 tháng, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công mới đạt xấp xỉ 42% kế hoạch, đặt ra áp lực lớn cho công tác điều hành trong nửa cuối năm. Dù quy mô giải ngân tăng so với cùng kỳ, nhiều vướng mắc về vật liệu, giải phóng mặt bằng và thủ tục vẫn đang cản trở khả năng hấp thụ vốn…
Trong những phiên giao dịch gần đây, việc Nhật Bản can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm bảo vệ tỷ giá đồng yên - với sự hỗ trợ của Mỹ - đã tạo ra một cú bật mạnh cho đồng tiền này...
Tín dụng toàn nền kinh tế vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 8,38% so với cuối năm trước, tập trung vào sản xuất – kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Trước áp lực đạt mục tiêu tăng trưởng cao, chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt, phối hợp với tài khóa để ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ dòng vốn cho các lĩnh vực trọng điểm…
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong chủ trì ngày 3/8, thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cho thấy các ngành sản xuất duy trì xu hướng tích cực.